Đánh giá chủ đề:
  • 0 Votes - 0 Average
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
NEW TOPIC'S DQ
02-03-2017, 10:03 PM
Bài viết: #201
RE: NEW TOPIC'S DQ
phần Kinh Dược Sư của HT Thích trí Quảng soạn tiếp sau đây:

TIÊU TAI KIẾT TƯỜNG THẦN CHÚ
Con xin quy mạng đảnh lễ chư Phật nói pháp thanh tịnh vi diệu.
Này Hư không! Hãy uống cạn tất cả họa tai, hãy làm sạch tất cả họa tai.
Này Sức nóng! Hãy phát hỏa, phát hỏa thiêu đốt tất cả họa tai, đốt sạch tai họa.
Này Tinh tú! Hãy xuất hiện, xuất hiện để tiêu trừ họa tai đen tối, làm cho bầu trời trong sáng, an lành, thật an lành.
NAM MÔ TIÊU TAI GIÁNG KIẾT TƯỜNG BỒ TÁT MA HA TÁT (3 lần)

TÁN HƯƠNG
Lò hương vừa bén gỗ chiên đàn
Khói thơm ngào ngạt khắp trần gian
Ba ngàn thế giới đều thanh tịnh
Mười phương chư Phật hiện thân vàng
NAM MÔ HƯƠNG VÂN CÁI BỒ TÁT MA HA TÁT (3 lần)

KHAI KINH

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT (3 lần)
Kính lạy Đức Thế Tôn
Quy mạng mười phương Phật
Con nay phát đại nguyện
Thọ trì kinh Dược Sư
Trên đền bốn ơn nặng
Dưới cứu khổ tam đồ
Nếu có kẻ thấy nghe
Đều phát tâm Bồ đề
Khi mãn Báo thân này
Sanh vào các Tịnh độ.
NAM MÔ DƯỢC SƯ HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT (3 lần)

Ghi chú: như nói trên, khi đưa lên chủ đề này thật kg dám tự cho mình là một Phật tử để có ý kiến với bậc cao trọng trong đạo mà chỉ nhằm hoan hỉ khi thấy bài kinh dù chỉ dựa vào ý chánh của các nguyên bản kinh từ Hán văn ( dq dựa vào bài kinh Hán của nhà nghiên cứu phật học Đoàn trung Còn, sẽ gửi sau) nhưng xúc tích đầy đủ ý nghĩa cần thiết của kinh Dược Sư va rất phù hợp đời sống hiện tại.Từng từ,câu chử gọn gói trọn cả những gì thể hiện trong các bài kinh Dược Sư cũ của hai HT Tuệ Nhuận , Huyền Dung soạn ra.


KINH DƯỢC SƯ
LƯU LY QUANG VƯƠNG NHƯ LAI
BỔN NGUYỆN CÔNG ĐỨC
( Ht Thích trí Quảng soan)

Tôi nghe như vầy, một thuở nọ Đức Phật châu du giáo hóa đến thành Quảng Nghiêm dưới cây tiếng nhạc, cùng với tám ngàn Tỳ kheo, ba vạn sáu ngàn Bồ tát, bát bộ Thiên long, người với quỷ thần, Bà la môn, cư sĩ, quốc vương, đại thần cung kính thỉnh Phật thuyết pháp.
Bấy giờ Văn Thù Bồ tát nương Phật thần lực, quỳ gối chắp tay, hướng Phật, bạch rằng: "Bạch Đức Thế Tôn! Cúi xin nói rõ danh hiệu, bổn nguyện, công đức thù thắng của các Đức Phật, để cho mọi người theo đó tu hành, được sanh công đức và nêu gương tốt cho chúng đời sau”.
Đức Phật liền bảo: "Hay thay, hay thay, Văn Thù Sư Lợi! Ông muốn Ta nói danh hiệu, bổn nguyện, công đức chư Phật cho chúng hữu tình khỏi bị nghiệp chướng buộc ràng, luôn được bình an trong đời Tượng pháp. Ông nên lóng nghe và suy nghĩ kỹ, ta sẽ vì ông mà nói”.
Văn Thù Sư Lợi Bồ tát bạch rằng: "Chúng con muốn nghe. Cúi xin Thế Tôn mở lòng chỉ giáo”.
Đức Phật liền bảo: "Này Văn Thù Sư Lợi, từ đây hướng đến phương Đông cách mười muôn ức cõi nước chư Phật có một thế giới tên là Tịnh Lưu Ly; Giáo chủ cõi này là Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai. Mọi người tôn kính, vì Ngài biết rõ thật tướng các pháp, giải được mọi việc xảy ra trong đời và vượt khó khăn, làm Thầy Trời người, là bậc tôn quý. Khi còn tu hạnh Bồ tát, có phát Mười hai Đại nguyện khiến cho hữu tình cầu chi được nấy.
THỨ NHỨT: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, hào quang của Ta chiếu khắp vô lượng vô biên thế giới, khiến chúng hữu tình thấy ánh quang này, thân tâm thanh tịnh, đủ tướng trượng phu, siêng tu Lục độ, rời biển trần khổ, vào chốn Niết Bàn.
THỨ HAI: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, thân Ta như ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt, tinh sạch hoàn toàn, hào quang rực rỡ chiếu khắp mười phương. Các chúng hữu tình ở nơi tăm tối cũng thấy thân Ta và được an lành, tùy tâm mãn nguyện.
THỨ BA: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, dùng trí phương tiện dạy chúng hữu tình khiến tin lẫn nhau, làm cho dân giàu nước mạnh.
THỨ TƯ: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có hữu tình tu theo tà đạo, thì Ta khiến họ trở về chánh đạo. Nếu theo nhị thừa, thì Ta khiến họ cầu Vô thượng giác.
THỨ NĂM: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có hữu tình ở trong giáo pháp tu hạnh thanh tịnh, thì Ta khiến họ đầy đủ Tam tụ tịnh giới. Nếu ai hủy phạm mà nghe danh Ta, tâm liền thanh tịnh, không đọa ác đạo.
THỨ SÁU: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có hữu tình thân hình hèn hạ, không đủ sáu căn, xấu xí, khờ khạo, tai điếc, mắt mù, nói năng ngọng liệu, tay chân tật nguyền, lác hủi, điên cuồng, chịu nhiều khổ não. Nghe được danh Ta, liền được khỏi bệnh, thân hình đoan chánh, trí huệ sáng suốt.
THỨ BẢY: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có hữu tình mang bệnh hiểm nghèo, không người cứu chữa, không chỗ cậy nhờ, nghèo cùng khốn khổ. Nghe được danh Ta, liền được khỏi bệnh, thân tâm thanh tịnh, quyến thuộc sum vầy.
THỨ TÁM: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có hữu tình mang thân phụ nữ chịu nhiều đau khổ, muốn cầu ra khỏi, nghe được danh Ta, thân tâm thanh tịnh, đủ tướng trượng phu, tiến đến Vô thượng Bồ đề.
THỨ CHÍN: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có hữu tình sa vào lưới ma, tà giáo ràng buộc, Ta dùng phương tiện khai thị cho họ, khiến khỏi đường mê, tu hạnh Bồ tát, chứng quả Vô thượng Bồ đề.
THỨ MƯỜI: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có hữu tình do vì vô minh phạm phải sai lầm, nên bị giam cầm, chịu nhiều đau khổ. Nghe được danh Ta, tất cả khổ ấy liền được tiêu trừ.
THỨ MƯỜI MỘT: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có người nào nghèo cùng, đói khát, vì cầu thức ăn mà tạo nghiệp ác. Nghe được danh Ta, chuyên lòng thọ trì, thì Ta khiến họ có đủ vật thực và dạy pháp Phật, khiến cho họ được Vô thượng Bồ đề.
THỨ MƯỜI HAI: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có người nào nghèo cùng hèn hạ, không có áo mặc, muỗi mòng cắn đốt, nóng lạnh dãi dầu. Nghe được danh Ta, chuyên lòng thọ trì, thì Ta khiến họ có đủ đồ dùng, y phục tốt đẹp, của báu dư thừa.
"Lại này Văn Thù Sư Lợi! Công đức của Phật Dược Sư không thể nghĩ bàn. Vì thế các ông nên khuyên chúng sanh nguyện về cõi Tịnh của Phật Dược Sư. Vĩ cõi Phật ấy, đất bằng lưu ly, cây báu thẳng hàng cũng như Tịnh Độ của Phật Di Đà, là nơi hội ngộ của nhiều Bồ tát Nhứt sanh bổ xứ, dưới sự hướng dẫn của hai Bồ tát Nhựt Quang Biến Chiếu, Nguyệt Quang Biến Chiếu là bậc đại sĩ trợ tuyên chánh pháp của Phật Dược Sư.
"Văn Thù Sư Lợi! Ở thế giới này lại có nhiều người không biết lành dữ, ôm lòng bỏn sẻn, thiếu hẳn đức tin, không ưa bố thí, tham lam, ích kỷ, cướp đoạt của người. Sau khi qua đời, sanh làm ngạ quỷ, đói khát, khổ sở, nhớ niệm danh hiệu của Phật Dược Sư, sanh lại làm người. Nhờ công đức ấy, nhớ khổ ngạ quỷ, nên hành bố thí, giúp kẻ nghèo cùng, tăng trưởng thiện căn, tu Bồ tát pháp.
"Lại nữa, trong đời ngũ trược, có kẻ phá giới, làm mất chánh kiến, khen mình, chê người, tôn thờ ác quỷ, làm bạn với ma, khi chết lại sa ác đạo. Nếu nghe danh hiệu của Phật Dược Sư, liền khỏi đường mê, bờ giác quay về, xuất gia học đạo, kính thờ Tam Bảo, học rộng nghe nhiều, thành tựu Lục độ cao siêu, chóng lên bờ giác.
"Ở trường hợp khác, nếu bị kẻ ác nhờ cậy quỷ thần, hoặc là phù thủy, yếm đối trù ẻo, khổ sở vô cùng. Nếu tụng Dược Sư tiêu tai thần chú, thì kẻ hung dữ cũng phải hiền lành và phát lòng thành quy y Tam Bảo.
"Nếu có Phật tử tu theo Tịnh độ pháp môn, nhưng chưa quyết tâm, đến lúc mạng chung mà nghe danh xưng NAM MÔ DƯỢC SƯ PHẬT, DƯỢC SƯ PHẬT, thì cũng sẽ được Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Quán Thế Âm Bồ tát, Đắc Đại Thế Bồ tát, Vô Tận Ý Bồ tát, Bảo Đàn Hoa Bồ tát, Dương Vương Bồ tát, Dược Thượng Bồ tát, Di Lặc Bồ tát, từ khắp mười phương chỉ lối đưa đường đến ao Thất bảo, sanh trong sen báu của Phật Di Đà, hoặc lên cõi trời, đời đời hưởng phước. Tuổi trời khi hết, sanh lại làm nhân gian, làm Chuyển luân vương, được người tôn kính. Bốn phương yên tĩnh, không có ác ma, khuyến hóa mọi nhà siêng tu thập thiện, ba nghiệp thanh tịnh, đủ tướng trượng phu.
"Lại này Văn Thù Sư Lợi! Sau khi thành đạo, Đức Phật Dược Sư phát tâm đại từ, liền vào Chánh định, hóa Phật trên đỉnh, thuyết Đà la ni Thần chú Tiêu tai, khiến cho ba cõi bốn loài không còn những bệnh quái ác. Nếu chư Bồ tát sanh ở đời sau, gặp bệnh nan y, nên trì chú này vào bát nước sạch, không có vi trùng, cho bệnh nhân dùng, liền được khỏe mạnh. Bồ tát đa hạnh làm thuốc cứu người, phước nhiều vô lượng, hiện đời được người kính trọng; chết lại theo Phật Dược Sư, tinh tấn siêng tu, sẽ thành Vô thượng Chánh giác”.
Bấy giờ Văn Thù Bồ tát xin Phật truyền bá kinh này, giải ách trừ tai, cứu đời mở đạo.
Đức Phật lại bảo: "Nếu có người nào cúng dường cầu phước, thì trước phải tạo bảy tượng của Phật Dược Sư để trên tòa cao, rải hoa dâng hương, đốt đèn tục mạng. Giữ tâm thanh tịnh, không giận, không buồn, thương xót chúng sanh, khởi tâm cứu hộ. Luôn nhớ bổn nguyện công đức của Phật Dược Sư, đọc tụng, suy tư, dạy người làm phước, thì được công đức không thể nghĩ bàn.
"Nếu ở thế gian, vượt núi băng ngàn, luôn gặp tai nạn, nước trôi, lửa cháy, quan lại hành hình, dưới biển cá kình, trên non hổ dữ, sư tử,độc xà, giặc giã khắp nơi, hết đường chạy thoát. Nhờ có căn lành đời trước, nên nhớ danh hiệu của Phật Dược Sư, trừ tai thần chú, nhiếp niệm thọ trì, tất cả tội này theo đây tan mất.
"Nếu có Phật tử lỡ phạm cấm giới, sợ đọa tam đồ, kính trọng tôn thờ Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai. Nhờ công đức này, khỏi đường sanh tử.
"Nếu có phụ nữ chịu khổ lúc sanh, sức lực tiêu tan, tưởng chừng phải chết. Nhờ phước đời trước, nghe được danh hiệu của Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai, liền hết khổ đau, hạ sanh mau lẹ, mẹ con bình an”.
Phật hỏi A Nan có tin việc ấy? A Nan đứng dậy mà bạch Phật rằng: "Mặt trăng nóng lên, mặt trời lạnh lại, lời nói Như Lai không bao giờ sai. Nhưng chúng đời sau tánh hay tự cao, không tin lời Phật, sẽ bị đọa lạc ở chốn tam đồ”.
Bấy giờ, trong chúng hội này có một Bồ tát tên là Cứu Thoát quỳ gối chắp tay bạch với Phật rằng: "Bạch Đức Thế Tôn! Sau khi Như Lai diệt độ, những người đau khổ, bệnh nặng, ốm gầy; bà con, bạn bè hết lòng cứu chữa, mà vẫn không khỏi, lại thấy sứ giả Diêm Ma sau khi kiểm tra đưa hồn về địa phủ đang chờ xét xử. Nếu có Phật tử vì người bệnh này, rước đủ bảy Thầy, treo phan tục mạng, hết lòng cầu nguyện Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai. Thần thức người này có thể trở lại, nhớ rõ mọi việc ở chốn âm ty; cho nên từ đây siêng năng tu phước, dẫu sanh trong đời ngũ trược mà vẫn an lành”.
Bấy giờ, A Nan muốn hiểu rõ ràng về đèn cứu mạng cùng với thần phan, làm sao giải oan cho người đã chết.
Cứu Thoát Bồ tát bạch Đức A Nan, ở trong thế gian nếu có kẻ bệnh, muốn được bình an, tất cả người thân phải giữ tám phần trai giới, mở kho bố thí, cúng dường chúng Tăng, lập đàn treo phan tục mạng trước bảy hình tượng của Phật Dược Sư, bốn mươi chín ngày đêm đốt đèn bổn mạng. Chư Tăng cầu nguyện, lễ Phật Dược Sư, giải ách trừ tai thần chú. Làm đủ việc ấy, bệnh khổ tiêu trừ.
Bấy giờ, A Nan nói mạng đã hết, làm sao không chết, mà được sống thêm?
Cứu Thoát Bồ tát thưa liền: "Thế Tôn có dạy chín loại hoạnh hồn, cho nên ta khuyên làm phan và đèn tục mạng, để khỏi tai nạn, được sống lâu dài. Chín thứ hoạnh này thật chưa hết số, nhưng vì quá khổ, nên phải chết oan.
"Thứ nhứt, người bệnh không đủ thuốc thang, không người chăm sóc, bệnh không đáng chết mà phải qua đời. Thứ hai, những kẻ chơi bời, đam mê tửu sắc. Thứ ba, bị bắt, bị xử tử hình. Thứ tư, chết chìm. Thứ năm, chết cháy. Sáu, bị ác thú. Thứ bảy, rơi từ trên cao. Tám, bị khổ đau vì lầm thuốc độc. Thứ chín, mai một vì thiếu thức ăn, phải bị chết oan, nên làm hoạnh tử.
"Lại nữa A Nan! Ở trên thế gian thường làm việc ác, Diêm vương xử phạt, nên giảm tuổi đời. Ta khuyên các người phóng sanh, tu phước, để được thọ mạng lâu dài”.
Bấy giờ, trong chúng hội này, mười hai Dược Xoa đại tướng cùng với thần binh, tất cả phát tâm quy y Tam Bảo và nguyện vì đạo, cứu giúp người đời. Bất cứ nơi nào kinh này lưu bố, quyết lòng ủng hộ người trì kinh này thoát khỏi nạn tai, cầu chi được nấy. Và trong lúc ấy, dùng chỉ năm màu gút tên ta vào, trì tụng trừ tai thần chú, ước nguyện đầy đủ, mới tháo dây ra. Tên của chúng ta là Cung Tỳ La đại tướng, Phạt Chiết La đại tướng, Mê Súy La đại tướng, An Để La đại tướng, Át Nể La đại tướng, San Để La đại tướng, Nhơn Đạt La đại tướng, Ba Di La đại tướng, Ma Hổ La đại tướng, Chơn Đạt La đại tướng, Chiêu Đổ La đại tướng, Tỳ Yết La đại tướng thường ở Ta bà.
Đức Phật Thích Ca liền khen mười hai Dược Xoa đại tướng cùng với thần binh cứu khổ độ sinh, đền ơn chư Phật.
A Nan lại bạch: "Kinh gọi tên gì, làm sao thọ trì, xin Phật chỉ bảo?”.
Thế Tôn dạy rõ kinh gọi Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai Bổn Nguyện Công Đức, hay Thập Nhị Thần Tướng Nhiêu Ích Hữu Tình Kết Nguyện Thần Chú, cũng gọi Bạt Trừ Nhứt Thiết Nghiệp Chướng, mà thọ trì.
Phật nói lời này, chư đại Bồ tát, bát bộ Thiên long, tất cả thế gian, Đại đức A Nan, tám ngàn Thánh Tăng đều rất vui mừng, tín thọ phụng hành.

Mười hai thần tướng đại Dược Xoa
Trợ tuyên Chánh pháp tại Ta bà
Thiên long Bát bộ đều tùy hỷ
Tà ma ngoại đạo phải tránh xa
NAM MÔ HỘ PHÁP CHƯ THIÊN BỒ TÁT MA HA TÁT (3 lần)

Phục nguyện :

NAM MÔ DƯỢC SƯ HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT tác đại chứng minh
Kính nguyện Phật Dược Sư giáng phước, Đức Di Lặc ban vui, Văn Thù khai cơ, Quan Âm thường cứu khổ. Vâng lời Phật Tổ, con mở hội Dược Sư, cầu mười hai Dược Xoa thần tướng phát tâm từ, xin Cứu Thoát Bồ tát thường gia hộ, khiến mọi người (bệnh nhân) hết khổ, cho quyến thuộc bình an. Nguyện tất cả thế gian đều trở thành Cực lạc.
Nguyện ngày an lành, đêm an lành, đêm ngày sáu thời đều an lành. Xin nguyện Từ bi thường gia hộ.
Nguyện ngày an lành, đêm an lành, đêm ngày sáu thời đều an lành. Xin nguyện Tam Bảo thường gia hộ.
Nguyện ngày an lành, đêm an lành, đêm ngày sáu thời đều an lành. Nguyện chư Hộ Pháp thường ủng hộ.
THANK YOU Quote
11-03-2017, 12:00 AM
Bài viết: #202
RE: NEW TOPIC'S DQ
Như trên, nay dq mời bà con thích tìm hiểu về liên quan giửa hai bài Việt dịch Kinh Dược Sư cùa tác giả Tuệ Nhuận & Huyền Dung với bản hán văn của tác giả Đoàn trung Còn xem qua.

[Hình: attachment.php?aid=13401]

KINH
DƯỢC SƯ
LƯU LY QUANG NHƯ LAI
BỔN NGUYỆN CÔNG ĐỨC
BẮC LƯƠNG THIÊN TRÚC TAM TẠNG ĐÀM VÔ SẤM PHỤNG CHIẾU DỊCH
ĐOÀN TRUNG CÒN - NGUYỄN MINH TIẾN

NGHI THỨC KHAI KINH
(Phần nghi thức này không thuộc Kinh văn nhưng
cần tụng niệm trước để tâm thức được an tịnh
trước khi đi vào tụng đọc Kinh văn)

NIỆM HƯƠNG
Tịnh pháp giới chân ngôn:
Án lam tóa ha.
(3 lần)
Tịnh tam nghiệp chân ngôn:
Án ta phạ bà phạ, thuật đà ta phạ, đạt
ma ta phạ, bà phạ thuật độ hám.
(3 lần)
(Chủ lễ thắp 3 cây hương, quỳ ngay ngắn nâng hương
lên ngang trán niệm bài Cúng hương sau đây.)

CÚNG HƯƠNG TÁN PHẬT
Nguyện thử diệu hương vân,
Biến mãn thập phương giới.
Cúng dường nhất thiết Phật,
Tôn Pháp, chư Bồ Tát,
Vô biên Thanh văn chúng,
Cập nhất thiết thánh hiền.
Duyên khởi quang minh đài,
Xứng tánh tác Phật sự.
Phổ huân chư chúng sanh,
Giai phát Bồ-đề tâm,
Viễn ly chư vọng nghiệp,
Viên thành vô thượng đạo.

KỲ NGUYỆN
Tư thời đệ tử chúng đẳng phúng tụng kinh chú, xưng tán hồng danh, tập thử công đức, nguyện thập phương thường trú Tam bảo, Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát... từ bi gia hộ đệ tử... Pháp danh... .... phiền não đoạn diệt, nghiệp chướng tiêu trừ, thường hoạch kiết tường, vĩnh ly khổ ách. Phổ nguyện âm siêu dương thới, hải yến hà thanh, pháp giới chúng sanh tề thành Phật đạo.

TÁN PHẬT
Pháp vương vô thượng tôn,
Tam giới vô luân thất.
Thiên nhân chi Đạo sư,
Tứ sanh chi từ phụ.
Ư nhất niệm quy y,
Năng diệt tam kỳ nghiệp.
Xưng dương nhược tán thán,
Ức kiếp mạc năng tận.

QUÁN TƯỞNG
Năng lễ sở lễ tánh không tịch,
Cảm ứng đạo giao nan tư nghì.
Ngã thử đạo tràng như đế châu,
Thập phương chư Phật ảnh hiện trung.
Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền,
Đầu diện tiếp túc quy mạng lễ.

Chí tâm đảnh lễ: Nam-mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn pháp, Hiền thánh tăng thường trú Tam bảo.

Chí tâm đảnh lễ: Nam-mô Ta-bà Giáo chủ Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, Đương lai hạ sanh Di-lặc Tôn Phật, Đại trí Văn- thù-sư-lợi Bồ Tát, Đại hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát.

Chí tâm đảnh lễ: Nam-mô Tây phương Cực Lạc Thế giới Đại từ Đại bi A-di-đà Phật, Đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.

TÁN DƯƠNG CHI
Dương chi tịnh thủy,
Biến sái tam thiên,
Tánh Không bát đức lợi nhân thiên,
Pháp giới quảng tăng diên,
Diệt tội tiêu khiên,
Hỏa diệm hóa hồng liên.
Nam-mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma- ha-tát.
(3 lần)

TÁN PHẬT DƯỢC SƯ
Đông phương Giáo chủ,
Thập nhị nguyện vương.
Tứ cửu kim đăng diệu đàn tràng.
Thất thất diễn chân thường.
Đảnh lễ tán dương,
Tiêu tai thọ diên trường.
Nam-mô Dược Sư Hải Hội Phật Bồ Tát.
Ta-bà phi thị cửu cư thành,
Dự hướng Không môn chuyển đại kinh.
Nhị lục nguyện vương tiêu tội cấu,
Tam thiên Hóa Phật giám kiền thành.
Nam-diêm phúc quả ư trung tú,
Tây Trúc liên hoa thử tế hinh,
Giải kết tiêu tai tăng diên thọ,
Phúc cơ mạng vị bảo khang ninh

DƯỢC SƯ KINH
DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI BẢN
NGUYỆN CÔNG ĐỨC KINH
(Đường Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang phụng chiếu dịch)

Như thị ngã văn: Nhất thời Bạc-già-phạm du hóa chư quốc, chí Quảng Nghiêm thành, trụ Nhạc âm thụ hạ, dữ đại Bật-sô chúng bát thiên nhân câu. Bồ Tát ma-ha-tát tam vạn lục thiên, cập quốc vương, đại thần, bà-la- môn, cư sĩ, thiên long bát bộ, nhân, phi nhân đẳng, vô lượng đại chúng cung kính vi nhiễu, nhi vị thuyết pháp. Nhĩ thời, Mạn-thù-thất-lỵ Pháp vương tử, thừa Phật oai thần, tùng tòa nhi khởi, thiên đản nhất kiên, hữu tất trước địa, hướng Bạc-già-phạm, khúc cung hiệp chưởng, bạch ngôn: Thế Tôn! Duy nguyện diễn thuyết như thị tương loại chư Phật danh hiệu, cập bổn đại nguyện thù thắng công đức, linh chư văn giả nghiệp chướng tiêu trừ, vị dục lợi lạc Tượng pháp chuyển thời chư hữu tình cố.
Nhĩ thời, Thế Tôn tán Mạn-thù-thất-lỵ Đồng tử ngôn: Thiện tai, thiện tai! Mạn-thù-thất-lỵ, nhữ dĩ đại bi khuyến thỉnh ngã thuyết chư Phật danh hiệu, bản nguyện công đức, vị bạt nghiệp chướng sở triền hữu tình, lợi ích an lạc tượng pháp chuyển thời chư hữu tình cố. Nhữ kim đế thính, cực thiện tư duy. Đương vị nhữ thuyết.” Mạn-thù-thất-lỵ ngôn: Duy nhiên, nguyện thuyết. Ngã đẳng nhạo văn.
Phật cáo Mạn-thù-thất-lỵ: Đông phương khứ thử quá thập Căng-già sa đẳng Phật độ, hữu thế giới danh Tịnh Lưu Ly, Phật hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng, Chánh đẳng giác, Minh hạnh viên mãn, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng trượng phu điều ngự sĩ, Thiên nhân sư, Phật, Bạc-già-phạm.
“Mạn-thù-thất-lỵ! Bỉ Phật Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, bổn hành Bồ Tát đạo thời, phát thập nhị đại nguyện, linh chư hữu tình sở cầu giai đắc:

Đệ nhất đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề thời, tự thân quang minh xí nhiên chiếu diệu vô lượng vô số vô biên thế giới. Dĩ tam thập nhị đại trượng phu tướng, bát thập tùy hình trang nghiêm kỳ thân, linh nhất thiết hữu tình như ngã vô dị.
Đệ nhị đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc Bồ-đề thời, thân như lưu ly, nội ngoại minh triệt, tịnh vô hà uế, quang minh quảng đại, công đức nguy nguy. Thân thiện an trụ, diệm võng trang nghiêm, quá ư nhật nguyệt. U minh chúng sanh tất mông khai hiểu, tùy ý sở thú tác chư sự nghiệp.
Đệ tam đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc Bồ-đề thời, dĩ vô lượng vô biên trí huệ phương tiện, linh chư hữu tình giai đắc vô tận sở thọ dụng vật, mạc linh chúng sanh hữu sở phạp thiểu.
Đệ tứ đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc Bồ-đề thời, nhược chư hữu tình hành tà đạo giả, tất linh an trụ Bồ-đề đạo trung. Nhược hành Thanh văn, Độc giác thừa giả, giai dĩ Đại thừa nhi an lập chi.
Đệ ngũ đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc Bồ-đề thời, nhược hữu vô lượng vô biên hữu tình, ư ngã pháp trung, tu hành phạm hạnh, nhất thiết giai linh đắc bất khuyết giới, cụ Tam tụ giới. Thiết hữu hủy
phạm, văn ngã danh dĩ, hoàn đắc thanh tịnh, bất đọa ác thú.
Đệ lục đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc Bồ-đề thời, nhược chư hữu tình, kỳ thân hạ liệt, chư căn bất cụ, xú lậu ngoan ngu, manh lung ấm á, loan tịch bối lũ, bạch lại điên cuồng, chủng chủng bệnh khổ,văn ngã danh dĩ, nhất thiết giai đắc đoan chánh, hiệt huệ, chư căn hoàn cụ, vô chư tật khổ.
Đệ thất đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc Bồ-đề thời, nhược chư hữu tình, chúng bệnh bức thiết, vô cứu, vô qui, vô y, vô dược, vô thân, vô gia, bần cùng đa khổ, ngã chi danh hiệu, nhất kinh kỳ nhĩ, chúng
bệnh tất trừ, thân tâm an lạc, gia thuộc tư cụ, tất giai phong túc, nãi chí chứng đắc Vô thượng Bồ- đề.
Đệ bát đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc Bồ-đề thời, nhược hữu nữ nhân, vi nữ bá ác chi sở bức não, cực sanh yếm ly, nguyện xả nữ thân. Văn ngã danh dĩ, nhất thiết giai đắc chuyển nữ thành nam, cụ trượng phu tướng, nãi chí chứng đắc Vô thượng Bồ-đề .
Đệ cửu đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc Bồ-đề thời, linh chư hữu tình xuất ma quyến võng, giải thoát nhất thiết ngoại đạo triền phược. Nhược đọa chủng chủng ác kiến trù lâm, giai đương dẫn nhiếp, trí ư chánh kiến; tiệm linh tu tập chư Bồ Tát hạnh, tốc chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.
Đệ thập đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc Bồ-đề thời, nhược chư hữu tình, vương pháp sở gia, phược lục tiên thát, hệ bế lao ngục, hoặc đương hình lục, cập chư vô lượng tai nạn lăng nhục, bi sầu tiễn bức thân tâm thọ khổ, nhược văn ngã danh, dĩ ngã phước đức oai thần lực cố, giai đắc giải thoát nhất thiết ưu khổ.
Đệ thập nhất đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc Bồ- đề thời, nhược chư hữu tình, cơ khát sở não, vị cầu thực cố, tạo chư ác nghiệp, đắc văn ngã danh, chuyên niệm thọ trì, ngã đương tiên dĩ thượng diệu ẩm thực, bảo túc kỳ thân, hậu dĩ pháp vị, tất cánh an lạc nhi kiến lập chi.
Đệ thập nhị đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc Bồ-đề thời, nhược chư hữu tình, bần vô y phục, mân manh hàn nhiệt, trú dạ bức não, nhược văn ngã danh, chuyên niệm thọ trì, như kỳ sở háo, tức đắc chủng chủng thượng diệu y phục. Diệc đắc nhất thiết bảo trang nghiêm cụ, hoa man đồ hương, cổ nhạc chúng kỹ. Tùy tâm sở ngoạn, giai linh mãn túc.

Mạn-thù-thất-lỵ! Thị vi bỉ Thế Tôn Dược sư Lưu ly Quang, Như Lai, ứng, Chánh đẳng giác...hành Bồ Tát Đạo thời, sở phát Thập nhị vi diệu thượng nguyện.
Phục thứ, Mạn-thù-thất-lỵ! Bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, hành Bồ Tát đạo thời sở phát đại nguyện, cập bỉ Phật độ công đức trang nghiêm, ngã nhược nhất kiếp, nhược nhất kiếp dư, thuyết bất năng tận.
Nhiên bỉ Phật độ, nhất hướng thanh tịnh, vô hữu nữ nhân, diệc vô ác thú cập khổ âm thanh. Lưu ly vi địa, kim thằng giới đạo, thành khuyết cung các, hiên song la võng, giai thất bảo thành, diệc như Tây phương Cực Lạc thế giới công đức trang nghiêm, đẳng vô sai biệt.
Ư kỳ quốc trung, hữu nhị Bồ Tát ma- ha-tát: nhất danh Nhật Quang Biến Chiếu, nhị danh Nguyệt Quang Biến Chiếu. Thị vi bỉ vô lượng vô số Bồ Tát chúng chi thượng thủ. Thứ bổ Phật xứ tất năng trì bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai chánh pháp bảo tạng.
Thị cố, Mạn-thù-thất-lỵ! Chư hữu tín tâm, thiện nam tử, thiện nữ nhân đẳng, ưng đương nguyện sanh bỉ Phật thế giới.
Nhĩ thời, Thế Tôn phục cáo Mạn-thù- thất-lỵ đồng tử ngôn: Mạn-thù-thất-lỵ! Hữu chư chúng sanh bất thức thiện ác, duy hoài tham lận, bất tri bố thí cập thí quả báo. Ngu si vô trí, khuyết ư tín căn. Đa tụ tài bảo, cần gia thủ hộ. Kiến khất giả lai, kỳ tâm bất hỷ. Thiết bất hoạch dĩ nhi hành thí thời, như cát thân nhục, thâm sanh thống tích.
Phục hữu vô lượng khan tham hữu tình, tích tập tư tài, ư kỳ tự thân thượng bất thọ dụng. Hà huống năng dữ phụ mẫu, thê tử, nô tỳ tác sử, cập lai khất giả? Bỉ chư hữu tình, tùng thử mạng chung, sanh ngạ
quỉ giới hoặc bàng sanh thú. Do tích nhân gian, tằng đắc tạm văn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh cố, niệm tại ác thú, tạm đắc ức niệm bỉ Như Lai danh. Tức ư niệm thời, tùng bỉ xứ một, hoàn sanh nhân trung, đắc túc mạng niệm, úy ác thú khổ, bất nhạo dục lạc, háo hành huệ thí, tán thán thí giả. Nhất thiết sở hữu, tất vô tham tích. Tiệm thứ thượng năng dĩ đầu mục, thủ túc, huyết nhục, thân phận, thí lai cầu giả. Huống dư tài vật?
Phục thứ, Mạn-thù-thất-lỵ! Nhược chư hữu tình, tuy ư Như Lai thọ chư học xứ, nhi phá thi-la. Hữu tuy bất phá thi-la, nhi phá quỹ tắc. Hữu ư thi-la, quỹ tắc, tuy đắc bất hoại, nhiên hủy chánh kiến. Hữu tuy bất
hủy chánh kiến, nhi khí đa văn, ư Phật sở thuyết khế kinh thâm nghĩa, bất năng giải liễu. Hữu tuy đa văn, nhi tăng thượng mạn. Do tăng thượng mạn phú tế tâm cố, tự thị phi tha, hiềm báng chánh pháp, vi ma bạn đảng. Như thị ngu nhân tự hành tà kiến, phục linh vô lượng câu-chi hữu tình đọa đại hiểm khanh. Thử chư hữu tình ưng ư địa ngục, bàng sanh, quỷ thú, lưu chuyển vô cùng.
Nhược đắc văn thử Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu, tiện xả ác hạnh, tu chư thiện pháp, bất đọa ác thú. Thiết hữu bất năng xả chư ác hạnh, tu hành thiện pháp, đọa ác thú giả, dĩ bỉ Như Lai bản nguyện oai lực, linh kỳ hiện tiền tạm văn danh hiệu, tùng bỉ mạng chung, hoàn sanh nhân thú, đắc chánh kiến, tinh tấn, thiện điều ý lạc. Tiện năng xả gia, thú ư phi gia. Như Lai pháp trung, thọ trì học xứ, vô hữu hủy phạm, chánh kiến, đa văn giải thậm thâm nghĩa, ly tăng thượng mạn, bất báng chánh pháp, bất vi ma bạn. Tiệm thứ tu hành chư Bồ Tát hạnh, tốc đắc viên mãn.
Phục thứ, Mạn-thù-thất-lỵ! Nhược chư hữu tình, khan tham tật đố, tự tán hủy tha, đương đọa Tam ác thú trung vô lượng thiên tuế, thọ chư kịch khổ.
Thọ kịch khổ dĩ, tùng bỉ mạng chung, lai sanh nhân gian, tác ngưu mã đà lư, hằng bị tiên thát, cơ khát bức não. Hựu thường phụ trọng, tùy lộ nhi hành.
Hoặc đắc vi nhân, sanh cư hạ tiện, tác nhân nô tỳ, thọ tha khu dịch, hằng bất tự tại. Nhược tích nhân trung tằng văn Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu, do thử thiện nhân, kim phục
ức niệm, chí tâm qui y. Dĩ Phật thần lực, chúng khổ giải thoát, chư căn thông lợi, trí huệ, đa văn, hằng cầu thắng pháp, thường ngộ thiện hữu, vĩnh đoạn ma quyến, phá vô minh xác, kiệt phiền não hà, giải thoát
nhất thiết sanh, lão, bệnh, tử, ưu sầu khổ não.
Phục thứ, Mạn-thù-thất-lỵ! Nhược chư hữu tình, háo hỷ quai ly, cánh tương đấu tụng, não loạn tự tha, dĩ thân ngữ ý, tạo tác tăng trưởng chủng chủng ác nghiệp, triển chuyển thường vi bất nhiêu ích sự, hỗ tương mưu hại. Cáo triệu sơn lâm thọ trủng đẳng thần. Sát chư chúng sanh, thủ kỳ huyết nhục, tế tự Dược-xoa, La-sát-bà đẳng. Thư oán nhân danh, tác kỳ hình tượng, dĩ ác chú thuật nhi chú trớ chi. Yếm mỵ cổ đạo, chú khởi thi quỷ, linh đoạn bỉ mạng cập hoại kỳ thân. Thị chư hữu tình nhược đắc văn thử Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu, bỉ chư ác sự tất bất năng hại. Nhất thiết triển chuyển giai khởi từ tâm, lợi ích an lạc, vô tổn não ý cập hiềm hận tâm. Các các hoan duyệt. Ư tự sở thọ, sanh ư hỷ túc, bất tương xâm lăng, hỗ vi nhiêu ích.
Phục thứ, Mạn-thù-thất-lỵ! Nhược hữu Tứ chúng: Bật-sô, Bật-sô-ni, Ô-ba-sách-ca, Ô-ba-ty-ca, cập dư tịnh tín: thiện nam tử, thiện nữ nhân đẳng, hữu năng thọ trì Bát phần trai giới, hoặc kinh nhất niên, hoặc phục tam ngoạt, thọ trì học xứ.
Dĩ thử thiện căn, nguyện sanh Tây phương Cực Lạc thế giới Vô Lượng Thọ Phật. Sở thính văn chánh pháp, nhi vị định giả. Nhược văn Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu, lâm mạng chung thời, hữu bát đại Bồ Tát, kỳ danh viết:
Văn- thù-sư-lợi Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đắc Đại Thế Bồ Tát, Vô Tận Ý Bồ Tát, Bảo Đàn Hoa Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát. Thị bát đại Bồ Tát thừa không nhi lai, thị kỳ đạo lộ. Tức ư bỉ giới chủng chủng tạp sắc chúng bảo hoa trung, tự nhiên hóa sanh.
Hoặc hữu nhân thử, sanh ư thiên thượng. Tuy sanh thiên thượng, nhi bổn thiện căn diệc vị cùng tận. Bất phục cánh sanh chư dư ác thú. Thiên thượng thọ tận, oàn sanh nhân gian. Hoặc vi luân vương, thống nhiếp tứ châu, oai đức tự tại, an lập vô lượng bá thiên hữu tình ư thập thiện đạo. Hoặc sanh sát- đế-lỵ, bà-la-môn, cư sĩ, đại gia, đa nhiêu tài bảo, thương khố doanh vật, hình tướng đoan chánh, quyến thuộc cụ túc, thông minh trí huệ, dõng kiện oai mãnh như đại lực sĩ.
Nhược thị nữ nhân đắc văn Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu, chí tâm thọ trì, ư hậu bất phục cánh thọ nữ thân.
Phục thứ, Mạn-thù-thất-lỵ! Bỉ Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, đắc Bồ-đề thời, do bản nguyện lực, quán chư hữu tình, ngộ chúng bệnh khổ, sấu luyện càn tiêu, hoàng nhiệt đẳng bệnh. Hoặc bị yếm mỵ, cổ độc sở trúng. Hoặc phục đoản mạng, hoặc thời hoạnh tử. Dục linh thị đẳng bệnh khổ tiêu trừ, sở cầu nguyện mãn, thời bỉ Thế Tôn nhập Tam-ma địa, danh viết Trừ diệt nhất thiết chúng sanh khổ não. Ký nhập định dĩ, ư nhục kế trung, xuất đại quang minh, quang trung diễn thuyết Đại Đà-la-ni viết:
Nam-mô Bạc-già-phạt-đế, Bệ-sái-xã lũ-rô. Bệ-lưu-ly, Bát-lạt-bà, hát-ra-xà-giả. Đát-đà-yết-đa-da A ra-hát-đế. Tam miệu. Tam-bột-đà-da. Đát-điệt-tha. Án. Bệ-sái- thệ. Bệ-sái-thệ. Bệ-sái-xã. Tam-một-yết-đế,
Tá-ha!
Nhĩ thời, quang trung thuyết thử chú dĩ, đại địa chấn động, phóng đại quang minh. Nhất thiết chúng sanh bệnh khổ giai trừ, thọ an ổn lạc.
Mạn-thù-thất-lỵ! Nhược kiến nam tử, nữ nhân hữu bệnh khổ giả, ưng đương nhất tâm, vị bỉ bệnh nhân, thường thanh tịnh tảo thấu, hoặc tự hoặc dược, hoặc vô trùng thủy, chú nhất bá bát biến, dữ bỉ phục thực. Sở hữu bệnh khổ, tất giai tiêu diệt. Nhược hữu sở cầu, chí tâm niệm tụng, giai đắc như thị, vô bệnh diên niên. Mạng chung chi hậu, sanh bỉ thế giới, đắc Bất thối chuyển, nãi chí Bồ-đề.
Thị cố, Mạn-thù-thất-lỵ! Nhược hữu nam tử, nữ nhân, ư bỉ Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, chí tâm ân trọng, cung kính cúng dường giả, thường trì thử chú, vật linh phế vong.
Phục thứ, Mạn-thù-thất-lỵ! Nhược hữu tịnh tín nam tử, nữ nhân, đắc văn Dược Sư Lưu Ly Quang, Như Lai, Ứng, Chánh đẳng giác... sở hữu danh hiệu. Văn dĩ tụng trì: thần tước xỉ mộc, tảo thấu thanh tịnh, dĩ chư hương hoa, thiêu hương, đồ hương, tác chúng kỹ nhạc, cúng dường hình tượng. Ư thử kinh điển, nhược tự thư, nhược giáo nhân thư, nhất tâm thọ trì, thính văn kỳ nghĩa. Ư bỉ pháp sư, ưng tu cúng dường, nhất thiết sở hữu tư thân chi cụ, tất giai thí dữ, vật linh phạp thiểu. Như thị tiện mông chư Phật hộ niệm; sở cầu nguyện mãn, nãi chí Bồ-đề.

Nhĩ thời, Mạn-thù-thất-lỵ đồng tử bạch Phật ngôn: Thế Tôn! Ngã đương thệ ư Tượng pháp chuyển thời, dĩ chủng chủng phương tiện, linh chư tịnh tín thiện nam tử, thiện nữ nhân đẳng đắc văn Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu. Nãi chí thụy trung, diệc dĩ Phật danh giác ngộ kỳ nhĩ.
Thế Tôn! Nhược ư thử kinh thọ trì độc tụng, hoặc phục vị tha diễn thuyết khai thị. Nhược tự thơ, nhược giáo nhân thơ, cung kính tôn trọng, dĩ chủng chủng hoa hương, mạt hương, thiêu hương, hoa man anh lạc, phan cái kỹ nhạc nhi vi cúng dường. Dĩ ngũ sắc thái, tác nang thành chi. Tảo sái tịnh xứ, phu thiết cao tọa nhi dụng an xử. Nhĩ thời, Tứ Đại Thiên vương dữ kỳ quyến thuộc cập dư vô lượng bá thiên thiên chúng giai nghệ kỳ sở cúng dường thủ hộ.
Thế Tôn! Nhược thử kinh bảo lưu hành chi xứ, hữu năng thọ trì, dĩ bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai bản nguyện công đức cập văn danh hiệu, đương tri thị xứ vô phục hoạnh tử. Diệc phục bất vi chư ác quỉ thần đoạt kỳ tinh khí. Thiết dĩ đoạt giả, hoàn đắc như cố, thân tâm an lạc.
Phật cáo Mạn-thù-thất-lỵ: Như thị, như thị. Như nhữ sở thuyết.
Mạn-thù-thất-lỵ! Nhược hữu tịnh tín thiện nam tử, thiện nữ nhân đẳng dục cúng dường bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai giả, ưng tiên tạo lập bỉ Phật hình tượng, phu thanh tịnh tòa nhi an xử chi. Tán chủng chủng hoa, thiêu chủng chủng hương, dĩ chủng chủng tràng phan, trang nghiêm kỳ xứ. Thất nhật thất dạ, thọ bát phần trai giới, thực thanh tịnh tự. Tảo dục hương khiết, trước tân tịnh y. Ưng sanh vô cấu trược tâm, vô nộ hại tâm. Ư nhất thiết hữu tình, khởi lợi ích an lạc, từ bi hỷ xả bình đẳng chi tâm. Cổ nhạc ca tán, hữu nhiễu Phật tượng. Phục ưng niệm bỉ Như Lai bản nguyện công đức, độc tụng thử kinh, tư duy kỳ nghĩa, diễn thuyết khai thị.
Tùy sở nhạo cầu, nhất thiết giai toại. Cầu trường thọ đắc trường thọ, cầu phú nhiêu đắc phú nhiêu, cầu quan vị đắc quan vị, cầu nam nữ đắc nam nữ.
Nhược phục hữu nhân, hốt đắc ác mộng, kiến chư ác tướng, hoặc quái điểu lai tập, hoặc ư trụ xứ, bá quái xuất hiện. Thử nhân nhược dĩ chúng diệu tư cụ, cung kính cúng dường bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai giả, ác mộng ác tướng, chư bất cát tường giai tất ẩn một, bất năng vi hoạn.
Hoặc hữu thủy hỏa, đao độc, huyền hiểm, ác tượng, sư tử, hổ lang, hùng bi, độc xà, ác yết, ngô công, do diên, mân manh đẳng bố. Nhược năng chí tâm ức niệm bỉ Phật, cung kính cúng dường, nhất thiết bố úy giai đắc giải thoát.
Nhược tha quốc xâm nhiễu, đạo tặc phản loạn, ức niệm cung kính bỉ Như Lai giả, diệc giai giải thoát.
Phục thứ, Mạn-thù-thất-lỵ! Nhược hữu tịnh tín thiện nam tử thiện nữ nhân đẳng, nãi chí tận hình bất sự dư thiên, duy đương nhất tâm quy Phật, Pháp, Tăng, thọ trì cấm giới, nhược Ngũ giới, Thập giới, Bồ Tát tứ bá giới, Bật-sô nhị bá ngũ thập giới, Bật-sô ni ngũ bá giới. Ư sở thọ trung, hoặc hữu hủy phạm, bố đọa ác thú. Nhược năng chuyên niệm bỉ Phật danh hiệu, cung kính cúng dường giả, tất định bất thọ tam ác thú sanh.
Hoặc hữu nữ nhân, lâm đương sản thời, thọ ư cực khổ. Nhược năng chí tâm xưng danh lễ tán, cung kính cúng dường bỉ Như Lai giả, chúng khổ giai trừ. Sở sanh chi tử, thân phận cụ túc, hình sắc đoan chánh, kiến giả hoan hỷ, lợi căn thông minh, an ổn thiểu bệnh. Vô hữu phi nhân đoạt kỳ tinh khí.
Nhĩ thời, Thế Tôn cáo A-nan ngôn:
Như ngã xưng dương bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai sở hữu công đức, thử thị chư Phật thậm thâm hành xứ, nan khả giải liễu. Nhữ vi tín phủ?
A-nan bạch ngôn: Đại đức Thế Tôn! Ngã ư Như Lai sở thuyết khế kinh, bất sanh nghi hoặc. Sở dĩ giả hà? Nhất thiết Như Lai thân, ngữ, ý nghiệp, vô bất thanh tịnh.
Thế Tôn! Thử nhật nguyệt luân khả linh đọa lạc. Diệu cao sơn vương khả sử khuynh động. Chư Phật sở ngôn, vô hữu dị dã.
Thế Tôn! Hữu chư chúng sanh, tín căn bất cụ, văn thuyết chư Phật thậm thâm hành xứ, tác thị tư duy: Vân hà đản niệm Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai nhất Phật danh hiệu, tiện hoạch nhĩ sở công đức thắng lợi? Do thử bất tín, phản sanh phỉ báng. Bỉ ư trường dạ, thất đại lợi lạc, đọa chư ác thú, lưu chuyển vô cùng.
Phật cáo A-nan: Thị chư hữu tình, nhược văn Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu, chí tâm thọ trì, bất sanh nghi hoặc, đọa ác thú giả vô hữu thị xứ.
A-nan! Thử thị chư Phật thậm thâm sở hành, nan khả tín giải. Nhữ kim năng thọ, đương tri giai thị Như Lai oai lực.
A-nan! Nhất thiết Thanh văn, Độc giác cập vị đăng địa chư Bồ Tát đẳng, giai tất bất năng như thật tín giải. Duy trừ Nhất sanh sở hệ Bồ Tát.
A-nan! Nhân thân nan đắc. Ư Tam Bảo trung, tín kính tôn trọng, diệc nan khả đắc. Văn Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu, phục nan ư thị.
A-nan! Bỉ Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, vô lượng Bồ Tát hạnh, vô lượng thiện xảo phương tiện, vô lượng quảng đại nguyện, ngã nhược nhất kiếp, nhược nhất kiếp dư, nhi quảng thuyết giả, kiếp khả tốc tận, bỉ Phật hạnh nguyện, thiện xảo phương tiện vô hữu tận dã.
Nhĩ thời, Chúng trung, hữu nhất Bồ tùng tòa khởi, thiên đản hữu kiên, hữu tất trước địa, khúc cung hiệp chưởng, nhi bạch Phật ngôn: Đại đức Thế Tôn! Tượng pháp chuyển thời. Hữu chư chúng sanh, vi chủng chủng hoạn chi sở khốn ách, trường bệnh luy sấu, bất năng ẩm thực, hầu thần càn táo, kiến chư phương ám, tử tướng hiện tiền. Phụ mẫu thân thuộc, bằng hữu tri thức đề khấp vi nhiễu. Nhiên bỉ tự thân, ngọa tại bổn xứ, kiến Diễm-ma sứ, dẫn kỳ thần thức chí vu Diễm-ma Pháp vương chi tiền. Nhiên chư hữu tình hữu Câu sanh thần, tùy kỳ sở tác, nhược tội nhược phước, giai cụ thư chi, tận trì thọ dữ Diễm-ma Pháp vương.
Nhĩ thời, bỉ vương thôi vấn kỳ nhân, toán kế sở tác, tùy kỳ tội phước nhi xử đoán chi. Thời bỉ bệnh nhân thân thuộc tri thức nhược năng vị bỉ, qui y Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, thỉnh chư chúng tăng, chuyển độc thử kinh, nhiên thất tằng chi đăng, huyền ngũ sắc tục mạng thần phan. Hoặc hữu thị xứ bỉ thức đắc hoàn, như tại mộng trung, minh liễu tự kiến.
Hoặc kinh thất nhật, hoặc nhị thập nhất nhật, hoặc tam thập ngũ nhật, hoặc tứ thập cửu nhật, bỉ thức hoàn thời, như tùng mộng giác, giai tự ức tri thiện bất thiện nghiệp. Sở đắc quả báo, do tự chứng kiến, nghiệp quả báo cố, nãi chí mạng nan, diệc bất tạo tác chư ác chi nghiệp.
Thị cố tịnh tín thiện nam tử, thiện nữ nhân đẳng giai ưng thọ trì Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu, tùy lực sở năng, cung kính cúng dường.
Nhĩ thời, A-nan vấn Cứu Thoát Bồ Tát viết: “Thiện nam tử! Ưng vân hà cung kính cúng dường bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai? Tục mạng phan đăng, phục vân hà tạo?
Cứu Thoát Bồ Tát ngôn: Đại đức! Nhược hữu bệnh nhân dục thoát bệnh khổ, đương vị kỳ nhân, thất nhật thất dạ, thọ trì Bát phần trai giới. Ưng dĩ ẩm thực cập dư chư cụ, tùy lực sở biện, cúng dường Bật-sô tăng. Trú dạ lục thời, lễ bái, cúng dường bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Độc tụng thử kinh tứ thập cửu biến, nhiên tứ thập cửu đăng, tạo bỉ Như Lai hình tượng thất khu. Nhất nhất tương tiền, các trí thất đăng. Nhất nhất đăng lượng, đại như xa luân, nãi chí tứ thập cửu nhật, quang minh bất tuyệt. Tạo ngũ sắc thái phan, trường tứ thập cửu trích thủ. Ưng phóng tạp loại chúng sanh. Chí tứ thập cửu nhật, khả đắc quá độ nguy ách chi nạn, bất vi chư hoạch ác quỉ sở trì.
Phục thứ, A-nan! Nhược sát- đế-lỵ Quán đảnh vương đẳng, tai nạn khởi thời, sở vị: nhân trung tật dịch nạn, tha quốc xâm bức nạn, tự giới bạn nghịch nạn, tinh tú biến quái nạn, nhật nguyệt bạc thực nạn, phi thời phong vũ nạn, quá thời bất vũ nạn, bỉ sát-đế-lỵ Quán đảnh vương đẳng, nhĩ thời ưng ư nhất thiết hữu tình, khởi từ bi tâm, xá chư hệ bế, y tiền sở thuyết cúng dường chi pháp, cúng dường bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Do thử thiện căn cập bỉ Như Lai bản nguyện lực cố, linh kỳ quốc giới tức đắc an ổn, phong vũ thuận thời, cốc giá thành thục. Nhất thiết hữu tình vô bệnh, hoan lạc.
Ư kỳ quốc trung, vô hữu bạo ngược Dược-xoa đẳng thần não hữu tình giả. Nhất thiết ác tướng giai tức ẩn một. Nhi sát-đế-lỵ Quán đỉnh vương đẳng, thọ mạng sắc lực, vô bệnh tự tại, giai đắc tăng ích.
A-nan! Nhược đế hậu phi chúa, trừ quân vương tử, đại thần phụ tướng, trung cung thể nữ, bá quan lê thứ vi bệnh sở khổ, cập dư ách nạn, diệc ưng tạo lập ngũ sắc thần phan, nhiên đăng tục minh, phóng chư sanh mạng tán tạp sắc hoa, thiêu chúng danh hương. Bệnh đắc trừ dũ, chúng nạn giải thoát.
Nhĩ thời, A-nan vấn Cứu Thoát Bồ Tát ngôn: Thiện nam tử! Vân hà dĩ tận chi mạng, nhi khả tăng ích?
Cứu Thoát Bồ Tát ngôn: “Đại đức! Nhữ khởi bất văn Như Lai thuyết hữu cửu hoạnh tử da? Thị cố khuyến tạo tục mạng phan đăng, tu chư phước đức. Dĩ tu phước cố, tận kỳ thọ mạng, bất kinh khổ hoạn.
A-nan vấn ngôn: Cửu hoạnh vân hà?
Cứu Thoát Bồ Tát ngôn: Nhược chư hữu tình đắc bệnh tuy khinh, nhiên vô y dược cập khán bệnh giả. Thiết phục ngộ y, thọ dĩ phi dược. Thật bất ưng tử, nhi tiện hoạnh tử. Hựu tín thế gian tà ma ngoại đạo. Yêu nghiệt chi sư vọng thuyết họa phước, tiện sanh khủng động, tâm bất tự chánh, bốc vấn mịch họa, sát chủng chủng chúng sanh, giải tấu thần minh, hô chư võng lượng, thỉnh khất phước hựu, dục kí diên niên, chung bất năng đắc.
Ngu si mê hoặc, tín tà đảo kiến, toại linh hoạnh tử. Nhập ư địa ngục, vô hữu xuất kỳ. Thị danh sơ hoạnh.
Nhị giả hoạnh bị vương pháp chi sở tru lục.
Tam giả điền liệp hy hý, đam dâm thị tửu, phóng dật vô độ, hoạnh vi phi nhân đoạt kỳ tinh khí.
Tứ giả hoạnh vi hỏa phần.
Ngũ giả hoạnh vi thủy nịch.
Lục giả hoạnh vi chủng chủng ác thú sở hám.
Thất giả hoạnh đọa sơn nhai.
Bát giả hoạnh vi độc dược, yếm đảo, chú trớ, khởi thi quỉ đẳng chi sở trúng hại.
Cửu giả cơ khát sở khốn, bất đắc ẩm thực, nhi tiện hoạnh tử.
Thị vi Như Lai lược thuyết hoạnh tử hữu thử cửu chủng. Kỳ dư phục hữu vô lượng chư hoạnh, nan khả cụ thuyết.
Phục thứ, A-nan! Bỉ Diễm-ma vương chủ lãnh thế gian danh tịch chi ký. Nhược chư hữu tình bất hiếu ngũ nghịch, phá nhục Tam bảo, hoại quân thần pháp, hủy ư tín giới, Diễm-ma Pháp vương, tùy tội khinh
trọng, khảo nhi phạt chi. Thị cố ngã kim khuyến chư hữu tình nhiên đăng tạo phan, phóng sanh tu phước, linh độ khổ ách, bất tao chúng nạn.
Nhĩ thời, chúng trung hữu Thập nhị Dược-xoa Đại tướng, câu tại hội tọa. Sở vị:
Cung-tỳ-la Đại tướng, Phạt-chiết-la Đại tướng, Mê-xí-la Đại tướng, An-để-la Đại tướng, Át-nễ-la Đại tướng, San- để-la Đại tướng, Nhân-đạt-la Đại tướng, Ba-di-la Đại tướng, Ma-hổ-la Đại tướng, Chân-đạt-la Đại tướng, Chiêu-đỗ-la Đại tướng, Tỳ-yết- la Đại tướng.
Thử thập nhị Dược-xoa Đại tướng, nhất nhất các hữu thất thiên Dược-xoa dĩ vi quyến thuộc, đồng thời cử thanh, bạch Phật ngôn: Thế Tôn! Ngã đẳng kim giả mông Phật oai lực, đắc văn Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu. Bất phục cánh hữu ác thú chi bố. Ngã đẳng tương suất, giai đồng nhất tâm, nãi chí tận hình, quy Phật, Pháp, Tăng. Thệ đương hà phụ nhất thiết hữu tình, vi tác nghĩa lợi, nhiêu ích an lạc. Tùy ư hà đẳng thôn thành quốc ấp, không nhàn lâm trung, nhược hữu lưu bố thử kinh, hoặc phục thọ trì Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu, cung kính cúng dường giả, ngã đẳng quyến thuộc vệ hộ thị nhân, giai sử giải thoát nhất thiết khổ nạn. Chư hữu nguyện cầu, tất linh mãn túc. Hoặc hữu tật ách cầu độ thoát giả, diệt ưng độc tụng thử kinh, dĩ ngũ sắc lũ, kết ngã danh tự, đắc như nguyện dĩ, nhiên hậu giải kết.
Nhĩ thời, Thế Tôn tán chư Dược-xoa Đại tướng ngôn: “Thiện tai! Thiện tai! Đại Dược-xoa tướng! Nhữ đẳng niệm báo Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai ân đức giả, thường ưng như thị lợi ích an lạc nhất thiết hữu tình.
Nhĩ thời, A-nan bạch Phật ngôn: Thế Tôn! Đương hà danh thử pháp môn? Ngã đẳng vân hà phụng trì?
Phật cáo A-nan: Thử pháp môn danh Thuyết Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai bản nguyện công đức. Diệc danh Thuyết Thập nhị Thần tướng nhiêu ích hữu tình kết nguyện thần chú. Diệc danh Bạt trừ nhất thiết nghiệp chướng. Ưng như thị trì.
Thời Bạc-già-phạm thuyết thị ngữ dĩ, chư Bồ Tát ma-ha-tát cập đại Thanh văn, quốc vương, đại thần, bà-la-môn, cư sĩ, thiên, long, dược-xoa, kiện-đạt-phược, a-tố- lạc, yết-lộ-trà, khẩn-nại-lạc, mạc-hô-lạc- già, nhân, phi nhân đẳng, nhất thiết đại chúng văn Phật sở thuyết, giai đại hoan hỷ, tín thọ phụng hành.
Nam-mô Dược Sư Hội Thượng Phật Bồ Tát.
(3 lần)
DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI BẢN
NGUYỆN CÔNG ĐỨC KINH CHUNG
(Kinh văn đến đây là hết, phần nghi thức kết thúc và hồi hướng người tụng có thể tùy chọn, hoặc thực hành theo như dưới đây.)

DƯỢC SƯ QUÁN ĐẢNH CHÂN NGÔN
Nam-mô Bạc-già-phạt-đế, Bệ-sái-xã lũ- rô. Bệ-lưu-ly, Bát-lạt-bà, hát-ra-xà-giả. Đá t- đà-yết-đa-da A ra-hát-đế. Tam miệu. Tam- bột-đà-da. Đát-điệt-tha. Án. Bệ-sái-thệ. Bệ- sái-thệ. Bệ-sái-xã. Tam-một-yết-đế, Tá-ha!
(3 lần)

TÁN DƯỢC-XOA
Thập nhị Dược-xoa Đại tướng,
Trợ Phật tuyên dương.
Ngũ sắc thể lũ kết kỳ danh,
Tùy nguyện tất viên thành.
Oan nghiệp b ăng thanh,
Phước thọ vĩnh khương ninh


File đính kèm Thumbnail(s)
   
THANK YOU Quote
14-03-2017, 05:03 AM
Bài viết: #203
RE: NEW TOPIC'S DQ
[Hình: attachment.php?aid=13407]

[Hình: attachment.php?aid=13408]


File đính kèm Thumbnail(s)
       
THANK YOU Quote
14-03-2017, 05:44 PM
Bài viết: #204
RE: NEW TOPIC'S DQ
CHÍN CHỬ CÙ LAO :

Trong kinh Thi Phụ có một đoạn như sau :
Phụ hề sinh ngã, Mẫu hề cúc ngã, ai ai phụ mẫu sinh ngã cù lao, dục báo thiên ân, hiệu thiên võng cực (Cha sinh ra ta, Mẹ bồng bế ta, thương thay cha mẹ, sinh ta khó nhọc, muốn báo ân sâu, khác nào như trời cao, khôn cùng) như một lời tuyên ngôn về Hiếu Đạo.

Còn khi đề cập đến công ơn từ mẫu thì đã có công thức chín chữ Cù lao : "Sinh, Cúc, Phủ, Súc, Trưởng, Dục, Cố, Phục, Phúc".

Sinh (đẻ ra), cúc (nâng đỡ), phủ (vuốt ve), súc (nuôi cho bú mớm), trưởng (nuôi cho khôn lớn), dục (dạy dỗ), cố (trông nom), phục (là xem tính tình mà chỉ bảo), phúc (là bảo vệ).

1– Sinh : Rõ ràng không ai có mặt trên đời mà không từ cha mẹ sinh . Nhưng để con ra đời bình thường , khỏe mạnh , xinh đẹp , thông minh …rồi nuôi cho con khôn lớn , cha mẹ chịu bao lao đao cực nhọc , phải chuẩn bị từ vật chất , tình cảm đến tinh thần . “ Đặt con vào dạ mà mạ đi tu” .Khi biết mình mang thai , bà mẹ tự nguyện chọn lối sống khắc khổ chẳng khác người tu hành . Ăn uống nói năng kiêng cử , ngủ nghỉ có giờ giấc , đi đứng cẩn thận …hy sinh mọi thú vui , bỏ cả phấn son điểm trang . Lúc sinh nở , người mẹ chịu bao đau đớn đến mức hiểm nguy . Trước đây khi chưa có máy siêu âm , cha mẹ biết bao hồi hộp chờ đợi giây phút trọng đại là lúc đứa con chào đời ; cho đến khi thấy con bình thường , cha mẹ mới yên tâm và bà mẹ mới nở nụ cười mừng rỡ .

2– Cúc là nâng đỡ . Từ “cục thịt” mới chào đời nặng chừng hai ký cho đến ba ký ..nuôi nấng cho con lớn , cha mẹ dù nghèo cùng túng bấn cũng mọi cách xoay sở , chạy đôn chạy đáo lo cho con không đủ ăn đủ mặc ; không quản ngại nguy hiểm , chịu trăm bề khổ nhục , có khi bị tù tội , thậm chí làm điều bất nhân bất nghĩa chuốc hậu quả đắng cay cũng cam , miễn sao con được sung sướng ! “Nuôi con chẳng quản chi thân . Bên ướt mẹ nằm , bên ráo con lăn”.

3- Phủ là ôm ấp , vuốt ve trìu mến , Để con lớn lên bình thường , cha mẹ không những nuôi con bằng bầu sữa , thức ăn mà đứa con còn tưới tẩm bằng tình cảm thương yêu , trìu mến từ mẹ cha , người thân . Xã hội công nghiệp ngày nay do áp lực đời sống , nhiều trẻ con được mọi tiện nghi mà thiếu sự gần gũi , chăm sóc của cha mẹ , tâm lý bị tổn thương khiến đứa trẻ không phát triển bình thường , dẫn đến trầm cảm , khủng hoản , bất mãn …là nguyên nhân đưa đến bạo động . “Công cha nghĩa mẹ cao dày . Cưu mang trứng nước những ngày còn thơ”.

4- Súc là bú móm , cho ăn . Trước đây ba bốn mươi năm không bà mẹ nào không cho con bú và nhai mớm thức ăn cho con . Sữa mẹ không những là thức ăn đầy đủ dưỡng chất cần thiết cho sự phát triển đứa trẻ mà còn có sức đề kháng hữu hiệu với vi khuẩn xâm nhập cơ thể , giúp sự tiêu hóa và hấp thụ dưỡng chất của em bé được dễ dàng . Cho con bú còn hàm dưỡng ngồn tình cảm , tinh thần người mẹ trao truyền cho con qua cử chỉ nâng niu khi ẵm bồng . Do xu thế thời đại bảo vệ sắc đẹp hay không có thì giờ nhiều bà mẹ ngày nay cho rằng cho con bú không hợp thời , ảnh hưởng tới sức khỏe của mẹ . Mặc dù được bồi bổ bằng thức ăn chọn lọc mà trẻ em vẫn thường bị mắc các chứng bệnh về đường ruột , trầm cảm …có nguyên nhân từ không được bú sữa mẹ trong sự yêu thương trìu mến của người mẹ . “Nhớ ơn chín chữ cù lao . Ba năm nhũ bộ biết bao nhiêu tình”.

5– Trưởng là nuôi lớn . Đây là quá trình gian nan vất vả của cha mẹ nuôi con đến trưởng thành . Có đứa trẻ nào không còi cọc , đau ốm trở mình khóc đêm khiến cha mẹ “năm canh chày thức đủ năm canh”. Con có bề nào cha mẹ mất ăn bỏ ngủ chạy đôn chạy đáo tìm thầy thuốc , không có tiền bạc cũng vay mượn chữa chạy cho con qua khỏi . Tìm trường , chọn thầy trang bị cho con kiến thức học rộng biết nhiều , có công danh sự nghiệp ; mở mày mở mặt với bạn bè , thiên hạ . Đến lúc con cái trưởng thành cha mẹ lo dựng vợ gả chồng : Con cái nên gia thất trăm bề yên ổn cha mẹ vẫn chưa yên lòng , còn lo toan đến cả cháu chắt . “Mẹ già trăm tuổi tóc sương-Lo con tám chục năm trường chưa yên!”

6– Dục là dạy dỗ . Cha mẹ là người thầy đầu đời về tình yêu thương , sự trìu mến . Tiếng cha , tiếng mẹ …bập bẹ tiếng nói đầu đời , âm thanh biết bao du dương , ấn tượng ! hướng dẫn con những bước chập chững , truyền đạt cho con điếu hay lẽ phải , kiến thức sơ đẳng về thế giới chung quanh . “ Dạy con từ thuở còn thơ – Mong con lanh lợi mẹ cha yên lòng”.

7– Cố là trông nôm , đoái hoài . Cha mẹ luôn quan tâm theo dõi con , mỗi bước tiến dù nhỏ bé của con cũng là niềm hạnh phúc lo lớn của cha mẹ . Những bước chập chững đầu tiên , tiếng nói bặp bẹ đầu đời , chứng kiến khả năng đi đứng nói nghe …khác nào điều kỳ diệu . Cha mẹ mới thực sự yên tâm con đủ đầy khả năng bình thường . Một giác quan có thể bị khiếm khuyết là biết mấy bất hạnh thiệt thòi cho con , cũng là nỗi khổ tột cùng của cha mẹ . Và vất vả khổ cực đến mấy cha mẹ cũng không từ nan , đêm ngày lo lắng , tìm thấy hỏi thuốc khắp nơi lùng sục chạy chữa cho con .

8– Phục là ôm ấp trở đi trở lại . Để con được sung sướng hạnh phúc , cha mẹ tùy thuộc vào khả năng , năng khiếu của con để uốn nắn , dạy dỗ , hướng con đi vào nghành nghề phù hợp . Tuy thế trong thực tế không phải lúc nào cũng được như ý . Không thiếu trường hợp con cái chống cha mẹ , theo sự lôi kéo của bạn bè rơi vào tù tội , ảnh hưởng xấu đến gia đình . Hoặc khi có sự nghiệp con cái vì danh lợi để cha mẹ già mòn mỏi đợi mong . Thế nhưng cha mẹ nào nỡ từ bỏ con , ngược lại luôn theo dõi bảo bọc chở che dầu con có thế nào . “Công cha nghĩa mẹ cao vời – Nhọc nhằn chẳng quản suốt đời vì ta” .

9– Phúc là bao bọc , che chở . Cha mẹ luôn là chỗ dựa vững chắc cho con cái , không chỉ trong đời sống vật chất mà cả đời sống tình cảm tinh thần . từ đó tạo ra mọi thuận lợi cho con được chấp cánh để bay xa vươn cao . Với duyên lành thuận buồm xuôi gió , con cái đi lên theo tiếng gọi công danh sự nghiệp , có khi bỏ quên cha mẹ . Nhưng nếu gặp khi không may vấp ngã thất bại con quay về …cha mẹ vẫn sẳn sàng dang rộng vòng tay che chở . “Còn cha gót đỏ như son . Mai đây cha mất gót con đen sì !”
THANK YOU Quote
21-03-2017, 09:23 AM
Bài viết: #205
RE: NEW TOPIC'S DQ
ppsx BÁT PHONG


.ppsx  DQ- BÁT PHONG.ppsx (Kích cỡ: 3.84 MB / Tải về: 17)
THANK YOU Quote
21-03-2017, 09:29 AM
Bài viết: #206
RE: NEW TOPIC'S DQ
NHỮNG CHỬ CÁI và SỰ LIÊN QUAN

Cuộc sống không phải là một mẻ lưới của số phận. Cuộc sống chính là một mối giao hoà bất tận giữa mỗi cá thể đang tồn tại
[Hình: attachment.php?aid=13417]

A - (Adult) - Trưởng thành
Khi bạn trưởng thành, bạn có thể giải quyết được những vấn đề phát sinh từ cuộc sống. Và lúc này, mọi người sẽ trông đợi rất nhiều ở cách bạn ứng xử, nhìn nhận và hành động. Hãy giữ cho mình một nét cá tính riêng, đừng bị “ngả nghiêng” bởi những lời nhận xét của người khác. Nhưng chắc chắn bạn phải biết thế nào là phù hợp, phải chín chắn trong phong cách và thái độ cũng như cách cư xử với người khác. Suy nghĩ và hành động chín chắn là đức tính cần có của một người trưởng thành.

B - (Better) - Cầu tiến
Hãy hướng tới những gì tốt đẹp hơn hiện tại. Đối với một vài người thì những gì tốt nhất vẫn chưa hẳn là đủ. Nếu bạn muốn trở thành một sinh viên, một sinh viên xuất sắc? Hãy cố gắng hết sức để đạt được mục đích của mình. Thay đổi cách suy nghĩ và hành động. Nếu bạn sợ thay đổi, bạn sẽ mãi dẫm chân tại chỗ. Cầu tiến sẽ là “chất xúc tác” giúp bạn đạt được những mục tiêu cao hơn. Chỉ cần bạn không đánh mất chính mình thì sự thay đổi sẽ không bao giờ là xấu.

C - (Control) - Điều khiển
Bạn phải biết điều khiển cuộc sống của mình, đừng để cuộc sống điều khiển bạn. Tự quyết định, tự hành động, tự chịu trách nhiệm tất cả mọi vấn đề. Đừng sống một cách tẻ nhạt, cuộc sống chứ không phải là một vở kịch được diễn đi diễn lại nhiều lần. Mọi quyết định của bạn, một là sẽ đưa bạn đến gần hơn với mục tiêu, hai là đẩy bạn rời xa nó. Do đó, hãy có một quyết định đúng đắn nhất. Giống như diễn viên hài Tim Allen đã nói rằng “Nếu bạn không tự quyết định được cuộc sống của mình, cuộc sống sẽ quyết định thay bạn”.

D - (Dream) - Ước mơ
Dám ước mơ, kể cả những ước mơ mà bạn chắc rằng chẳng bao giờ đạt được nó. Nếu bạn dám khát khao, tin tưởng thì chắc chắn bạn sẽ biết cách để đạt được. Tất cả tuỳ thuộc ở việc bạn có sẵn sàng để thực hiện hay không. Đừng để ý đến những lời dèm pha của người khác. Nếu bạn không tin rằng những dự định tốt đẹp của mình sẽ thành hiện thực, bạn đã mất đi một nửa sức mạnh.

E - (Enthusiasm) - Nhiệt tình
Nhiệt tình, say mê - nếu bạn có được những cái đó, cuộc sống của bạn sẽ thú vị hơn rất nhiều. Sự nhiệt tình có sức “lây lan” rất nhanh, do đó, nếu được sống và làm việc trong một môi trường năng động, “sức ì” của bạn sẽ nhanh chóng bị đánh bật. Nếu bạn không cảm thấy say mê với những gì bạn đang làm, hãy cân nhắc và làm những điều mà bạn thích hơn. Cuộc đời quá ngắn, và bạn sẽ không đủ thời gian để kiềm chế lòng nhiệt tình, say mê của mình với cuộc sống.

F- (Failure) - Thất bại
Thất bại trong học hành, trong cuộc sống sẽ khiến bạn buồn phiền, chán nản, thậm chí buông xuôi. Nhưng hãy nhớ rằng thất bại là tạm thời, và bạn không việc gì phải lúng túng hay lo lắng gì về điều này cả. Có những chiến thắng oanh liệt nhất lại là kết quả của sự thất bại nặng nề nhất. Tất cả chúng ta đều có lúc phải tự đấu tranh giữa việc buông xuôi hay cố gắng. Nếu bạn là một sinh viên học hành sa sút, nợ nần ngập đầu… Điều xấu hổ không phải là sự thất bại của bạn mà chính là việc bạn không muốn làm gì để thoát ra khỏi tình trạng đó.

G - (Giver) - Cho
Cho đi thì hạnh phúc hơn nhận về. Một lời khen tặng, tình nguyện làm một vài việc tốt… tất cả điều đó đều mang đến cho bạn và người khác một cảm giác dễ chịu và thực sự là rất có ý nghĩa. Khi bạn cho,chỉ đơn giản là cho chứ không mong đền đáp, bạn sẽ nhận được nhiều hơn thế.

H - (Happy) - Hạnh phúc
Nên tự tìm lấy hạnh phúc cho mình từ những điều đơn giản trong cuộc sống. Công việc, sở thích riêng, bạn bè, đồng nghiệp… Tất cả những điều này đều ẩn chứa những giá trị mà bạn chưa khám phá hết được.
Cuộc sống là một chuỗi phức hợp, bạn không thể tránh được những lúc chán nản, mệt mỏi, kêu ca, phàn nàn, nhưng quan trọng vẫn là cảm giác riêng của bạn. Khi bạn cảm thấy hạnh phúc, thì đấy chính là hạnh phúc thực sự. Đừng kêu ca, phàn nàn mãi về những gì chưa hoàn thiện trong cuộc sống, nên nhớ rằng bản thân bạn cũng chính là một vấn đề. Hãy tự hoàn thiện mình và cảm nhận hạnh phúc từ những gì mình đang có.

I - (Invest) - Đầu tư
Nên đầu tư cho tương lai của bạn ngay từ bây giờ. Bạn kiếm được nhiều tiền? Nhưng không có nghĩa là bạn “phải” tiêu cho bằng hết số tiền đó. Hãy học các tỷ phú, họ có rất nhiều tiền, nhưng luôn muốn đầu tư vào một lĩnh vực nào đó để làm tăng số tiền ấy lên hơn là chịu “ném tiền qua cửa sổ”. Đừng tiêu pha quá đáng, và cũng tránh lâm vào cảnh nợ nần chồng chất. Bạn có thể đầu tư cho tương lai bằng nhiều cách: học hành chăm chỉ, cố gắng thăng tiến trong nghề nghiệp, v.v… Làm thế nào đó để khi bạn bước vào tương lai, bạn không cảm thấy mình quá “nghèo nàn”.

J - (Joyfulness) - Niềm vui
Tự tìm lấy niềm vui và ý nghĩa trong tất cả các công việc bạn làm, như thế bạn sẽ cảm thấy hứng thú hơn. Tự tìm lấy niềm vui cho mình và cho cả người khác nữa. Bạn có thể gọi người lái xe, thư ký, nhân viên tiếp tân bằng tên thân mật, và hỏi thăm sức khỏe của họ. Sau đó hãy xem câu trả lời bạn nhận được là gì. Quan tâm đến người khác và tự tạo cho mình các mối quan hệ cá nhân, và bạn sẽ cảm nhận thấy niềm vui lớn nhất của mình.

K - (Knowlegde) - Tri thức
Có những điều bạn học được ở trường, nhưng cũng có những điều chỉ có cuộc sống mới dạy được cho bạn. Sự học là suốt đời và hãy làm một người học trò chăm chỉ. Bởi vì khi bạn càng biết nhiều, bạn sẽ ngẫm ra một điều rằng mình vẫn chưa biết gì cả. Những cái cũ bạn đã học được, những cái mới bạn chưa hiểu? Tất cả vẫn còn tiềm ẩn trong cuộc sống. Sự “học” và sự “biết” là mênh mông vô cùng trong cuộc đời này. Hãy tích lũy kiến thức cho mình, và hãy học thêm những điều mới trong tất cả các cơ hội bạn có được.

L - (Listen) - Lắng nghe
Nói một và lắng nghe gấp đôi. Bạn phải tự biết cân đối điều này. Lắng nghe theo đúng nghĩa của nó chứ không phải lắng nghe một cách hời hợt. Bạn sẽ hiểu thêm nhiều điều và ngẫm nghĩ được nhiều điều từ việc biết lắng nghe một cách hiệu quả.

M - (Mistake) - Lỗi lầm
Đừng sợ hãi nếu bạn lỡ gây ra một lỗi lầm nào đó. Hãy tự khuyến khích mình rằng đó chính là cách để bạn học hỏi và rút kinh nghiệm. Đừng để những lỗi lầm đó đánh gục bạn. Có thể bạn sẽ rất buồn và day dứt, vậy thì đừng cố giấu diếm, hãy tìm cách giải toả và cố học thêm những điều mới từ cái đã cũ. Và cố gắng đừng bao giờ lặp lại những sai lầm tương tự.

N - (No) - “Không”
Hãy biết nói “không” đúng lúc. Nói “không” với cuộc sống quá buông thả, nói “không” với những cách cư xử khiếm nhã, nói “không” với những thói quen xấu, với những người xấu mà bạn gặp. Nói “không” đúng lúc và đúng cách sẽ là cái rào chắn tốt nhất bảo vệ bạn không bị sa ngã và cám dỗ.

O - ( Opportunity ) - Cơ hội
Cơ hội nhiều khi gõ cửa rất nhanh và rất khẽ. Nếu bạn chú ý lắng nghe, bạn sẽ biết được khi nào thì nó đến. Để tâm đến những thứ diễn ra xung quanh bạn, và hãy biết chấp nhận rủi ro, mạo hiểm để nắm bắt lấy những cơ hội. Số phận của bạn nằm trong tay bạn.

P - (Patience) - Kiên trì
Thành Rome không thể xây trong một ngày, và sự nghiệp của bạn cũng vậy. Tất cả mọi người đều bắt đầu bằng một cách nào đó và tất cả mọi thứ đều cần có thời gian. Mặc dù có thể sẽ rất khó khăn để hiểu một vấn đề ngay lập tức, nhưng nếu bạn đủ say mê, kiên nhẫn để học hỏi và quyết tâm làm điều đó, bạn sẽ làm được. Chữ “Nhẫn” đúng là rất khó học, nhưng mọi thành công đều cần có nó.

Q - (Quality) - Phẩm chất bên trong
Hãy tỏ rõ năng lực của mình trong tất cả những việc mà bạn làm. Thiết lập những mối quan hệ nghiêm chỉnh, làm việc hiệu quả, suy nghĩ chín chắn, giữ gìn sức khỏe… Nên nhớ rằng, bao giờ giá trị bên trong cũng bền vững hơn dáng vẻ bên ngoài. Giá trị cuộc sống là ở những phẩm chất bên trong, là được đánh giá ở tính hiệu quả chứ không phải ở việc tính từ lúc sinh ra đến giờ bạn đã làm được bao nhiêu việc.

R - (Reputation) - Thanh danh
Dù là tiếng tốt hay tiếng xấu cũng sẽ được “lưu giữ”mãi. Bạn bè, người quen… sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành tính cách của bạn. Vậy nên, bạn phải biết chọn bạn mà chơi, chọn mặt gửi vàng. Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ càng đồn xa hơn. Thanh danh là cái sẽ theo bạn đến suốt đời, do đó hãy biết cách“chăm sóc” và “nuôi dưỡng” nó.

S - (Success) - Thành công
Thành công không phải là cân đo đong đếm số tiền bạn kiếm được hay số lượng tài sản mà bạn có. Thành công chính là khi bạn biết vượt qua chính mình, là khi bạn biết tự điều khiển cuộc sống theo hướng tích cực hơn. Nếu bạn so sánh mình với người khác, bạn sẽ rơi vào tình trạng bế tắc. Thay vào đó hãy tìm cách “chạy đua” với những mục tiêu cụ thể mà bạn đã đặt ra. Hãy tin rằng bạn có đủ khao khát và bạn có đủ những tố chất để có thể trở thành một người thành công.

T - (Thankful) - Biết ơn
Hãy biết ơn những gì cuộc sống mang lại cho bạn và trân trọng những gì mình đang có. Nếu bạn chưa có một công việc và địa vị cao? Đừng lấy điều đó làm xấu hổ, hãy tự nhủ rằng so với những người thất nghiệp mình còn may mắn hơn nhiều, rằng không có công việc nào là thấp kém nếu đó là công việc hợp pháp. Biết đánh giá đúng những cơ hội trong công việc cũng như những thứ giúp bạn sống tốt hơn. Hãy cám ơn sức khoẻ của bạn, gia đình bạn và tất cả những người tốt mà bạn may mắn được gặp.

U - (Understanding people) - Thấu hiểu
Cố gắng hiểu người khác nhiều hơn. Luôn nhớ ơn những người đã giúp đỡ bạn và cố gắng để giúp đỡ người khác. Đối xử với những người xung quanh bằng sự kính trọng bất chấp địa vị và thân thế của họ. Khi bạn chín chắn, bạn sẽ nhận thức được rằng, hiểu người khác tức là hiểu thêm nhiều điều về bản thân mình.

V - (Values) - Giá trị
Nhận ra giá trị của bản thân và phải xác định được cái gì là quan trọng nhất đối với mình. Đừng bao giờ buông xuôi với những thứ mà bạn biết rằng nó có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân bạn. Hãy giữ vững lập trường và quan điểm của mình, tin tưởng vào sự lựa chọn của mình. Nếu bạn không có lập trường của riêng mình, bạn sẽ bị rơi vào một mớ hỗn độn và không tìm được lối ra.

W - (Willing) - Sẵn sàng
Nếu bạn mới đi làm, hãy sẵn sàng đến sớm và về muộn, bỏ thói quen đi ra ngoài ăn trưa hoặc mua sắm để không phí phạm thời gian và làm việc tốt hơn. Hãy sẵn sàng làm từ những cái cơ bản nhất, đừng ngại khổ, công lao của bạn sẽ được đền đáp xứng đáng.

X - (“X” traordinary) - Bất ngờ
Có một vài điều xảy ra mà không cần có lý do cũng như không thể nào giải thích được. Nhiều lúc bạn nghĩ mình đã nắm chắc trong tay chiến thắng, nhưng khi có một vài điều bất ngờ xảy ra bạn sẽ hiểu rằng không có gì là chắc chắn cả. Đừng có trở thành một người tự mãn, rằng bạn không bao giờ sai. Bạn không thể đạt được điều đó, tất cả mọi thứ đều chỉ là tương đối. Hãy sống cuộc sống của mình, mơ giấc mơ của riêng mình, nhưng đừng bao giờ nghĩ rằng sức khoẻ, gia đình, công việc… sẽ luôn luôn giống như bạn hình dung, không có gì thay đổi.

Y - (You) - Bản thân bạn
Bạn hãy biết tự hài lòng với mình ở một mức độ có thể. Đừng có chú ý đến những người hơn mình để so sánh và dằn vặt. Đó không phải là cầu tiến, đó là so sánh và ganh tỵ. Hãy giúp đỡ những người kém may mắn hơn. Vui mừng vì những gì bạn đã làm được, và cố gắng với những gì bạn chưa làm được. Hối hận và dằn vặt chẳng được ích lợi gì. Nên nghĩ rằng, một tương lai tốt đẹp đang chờ đón bạn ở phía trước.

Z - (Zoom) - Biến ước mơ thành hiện thực
Bạn đã sẵn sàng, bạn đã kiên quyết, bạn đã biết cách mở rộng con đường mà bạn đã chọn từ trước, bạn đã cảm thấy hài lòng về sự lựa chọn của mình? Vậy thì đấy là lúc bạn đủ năng lượng và điều kiện để “cất cánh”, để hoàn thành những dự định và ước mơ của mình.


File đính kèm Thumbnail(s)
   
THANK YOU Quote
24-03-2017, 08:01 PM (Được chỉnh sửa: 24-03-2017 08:02 PM bởi dieuquang.)
Bài viết: #207
RE: NEW TOPIC'S DQ
[Hình: attachment.php?aid=13422]
[Hình: attachment.php?aid=13423]
[Hình: attachment.php?aid=13424]
[Hình: attachment.php?aid=13425]
[Hình: attachment.php?aid=13426]


File đính kèm Thumbnail(s)
                   
THANK YOU Quote
22-05-2017, 03:41 PM
Bài viết: #208
RE: NEW TOPIC'S DQ
PHẬT DI GIÁO KINH

Kinh di giáo là một bộ kinh ghi chép những lời dạy cuối cùng của đức Phật, những gì tiêu biểu nhất, tinh tuý nhất của giáo pháp. Vì vậy kinh này được coi là căn bản và cần thiết cho người xuất gia.

Kinh di giáo xuất hiện ở Trung Hoa vào đời Diêu Tần (384-417), bản kinh do ngài Cưu Ma La Thập dịch. Căn cứ vào bản dịch đó, nhiều nhà nghiên cứu và chú giải về kinh này làm cho kinh Di Giáo càng phong phú và sâu sắc hơn, các luận bản như là: Di Giáo Kinh Luận, Di Giáo Kinh Luận Pháp Trú Ký, Di Giáo Kinh Luận Ký, Phật Di Giáo Kinh Luận Sớ Thiết Yếu, Phật Di Giáo Kinh Giải

Bối cảnh thuyết kinh là trong rừng Sa la Song Thọ, trước giờ đức Phật nhập Niết bàn. Các nhà nghiên cứu Phật học Trung Hoa xếp kinh Di Giáo này vào hệ thống kinh Niết Bàn, gồm những kinh tạng của Nguyên thủy và Ðại thừa, là những kinh nói về trạng thái Ðức Phật lúc nhập Niết bàn và những lời giảng dạy của ngài

Tuy nhiên dq xem xong , thấy những lời chỉ dạy vẫn có thể áp dung cho giới cư sĩ muốn hoàn thiện thành người tốt hơn có thể dựa theo mà học hỏi nghiên cứu.

PHẬT DI GIÁO KINH
[PHẬT THÙY BÁT NIẾT-BÀN
LƯỢC THUYẾT GIÁO GIỚI KINH]
(Hậu Tần Tam Tạng Pháp Sư Cưu-ma-la-thập phụng chiếu dịch)

ĐƯỜNG THÁI TÔNG PHẬT DI GIÁO KINH THI HÀNH SẮC
(Đời Hậu Tần Tam Tạng Pháp Sư Cưu-ma-la-thập vâng chiếu dịch)
Vãng giả, Như Lai diệt hậu, dĩ mạt đại kiêu phù phó chúc quốc vương, đại thần hộ trì Phật pháp. Nhiên, tăng ni xuất gia giới hạnh tu bị. Nhược túng tình dâm dật, xúc đồ phiền não, quan thiệp nhân gian, động vi kinh luật, ký thất Như Lai huyền diệu chi chỉ, hựu khuy quốc vương thọ phó chi nghĩa.
Di giáo kinh giả, thị Phật lâm Niết-bàn sở thuyết, giới khuyến đệ tử, thậm vi tường yếu. Mạt tục tri tố tịnh bất sùng phụng. Đại đạo tương ẩn, vi ngôn thả tuyệt.
Vĩnh hoài Thánh giáo, dụng tư hoằng triển, nghi linh sở tư, sai thơ thủ thập nhân, đa tả Kinh bổn, vụ tại thi hành. Sở tu chỉ, bút, mặc đẳng, hữu tư chuẩn cấp. Kỳ quan hoạn ngũ phẫm dĩ thượng cập chư châu thứ sử, các phó nhất quyển. Nhược kiến Tăng Ni hạnh nghiệp dữ Kinh văn bất đồng, nghi công tư khuyến miễn, tất sử tuân hành.

SẮC CHỈ CỦA VUA ĐƯỜNG THÁI TÔNG
VỀ VIỆC THỰC HÀNH KINH LỜI DẠY CUỐI CÙNG

Đức Như Lai xưa trước khi diệt độ, biết rằng về đời mạt pháp con người rồi sẽ khinh bạc quá độ, nên phó chúc cho hàng quốc vương, đại thần hộ trì Phật pháp. Dù vậy, hàng tăng ni xuất gia tự phải nên đầy đủ giới hạnh. Nếu lại buông thả tình ý vào đường dâm dật, vướng vít phiền não, qua lại chốn thế gian, làm trái với kinh luật, tức là đánh mất ý chỉ huyền diệu của Như Lai, lại phụ nghĩa hàng quốc vương nhận lời phó chúc.
Kinh Di giáo này do Phật thuyết giảng lúc sắp nhập Niết-bàn, khuyên nhủ hàng đệ tử, lời lẽ rất rõ ràng, thiết yếu. Thế mà những kẻ xuất gia và tại gia đời mạt pháp đều chẳng tôn trọng làm theo. Đại đạo vì thế sắp phải ẩn khuất, lời vi diệu ắt phải tuyệt dứt đi!
Trẫm hằng nhớ tưởng Thánh giáo, muốn rộng truyền ra, nên sắc cho quan thuộc sai mười người hay chữ, sao chép kinh này ra nhiều bản, là nhắm đến việc phải làm theo kinh. Những thứ cần dùng như giấy, bút, mực... quan hữu tư phải lo cung cấp.
Hết thảy quan viên từ ngũ phẩm trở lên, cùng thứ sử các châu, mỗi người được trao cho một quyển. Nếu ai thấy đức hạnh, việc làm của hàng tăng ni mà không phù hợp theo kinh này, thì nên lấy cả phép công lẫn tình riêng mà khuyên nhủ, khiến cho phải làm theo.

NHẤT – KINH TỰ
Thích-ca Mâu-ni Phật , sơ chuyển pháp luân độ A-nhã Kiều-trần-như, tối hậu thuyết pháp độ Tu-bạt-đà-la. Sở ưng độ giả, giai dĩ độ ngật. Ư Sa-la song thọ gian, tương nhập Niết bàn. Thị thời, trung dạ tịch nhiên vô thanh. Vị chư đệ tử, lược thuyết pháp yếu.
1. TỰA KINH
Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, lúc mới Chuyển pháp luân độ ông A-nhã Kiều-trần-như, đến khi thuyết pháp lần cuối cùng độ ông Tu-bạt-đà-la. Khi những người đáng độ đã độ hết rồi, ở giữa hai cây Sa-la ngài sắp nhập Niết-bàn. Bấy giờ là nửa đêm, khắp nơi yên lặng không một âm thanh gì, Phật vì hàng đệ tử mà lược thuyết những chỗ cốt yếu trong giáo pháp.

NHỊ – TRÌ GIỚI
Nhữ đẳng tỳ-kheo! Ư ngã diệt hậu, đương tôn trọng trân kính Ba-la-đề-mộc-xoa. Như ám ngộ minh, bần nhân đắc bảo, đương tri thử tắc thị nhữ đẳng đại sư. Nhược ngã trụ thế, vô dị thử dã. Trì tịnh giới giả, bất đắc phán mại mậu dịch, an trí điền trạch, súc dưỡng nhân dân, nô tỳ, súc sanh. Nhất thiết chủng thực cập chư tài bảo, giai đương viễn ly, như tỵ hỏa khanh. Bất đắc trảm phạt thảo mộc, khẩn thổ, quật địa, hiệp hòa thang dược, chiêm tướng kiết hung, ngưỡng quan tinh tú, suy bộ doanh hư. Lịch số, toán kế, giai sở bất ưng. Tiết thân, thời thực, thanh tịnh tự hoạt. Bất đắc tham dự thế sự, thông trí sứ mạng. Chú thuật, tiên dược, kết hảo quý nhân, thân hậu tiết mạn, giai bất ưng tác. Đương tự đoan tâm chánh niệm cầu độ. Bất đắc bao tàng hà tỳ, hiển dị hoặc chúng. Ư tứ cúng dường, tri lượng, tri túc. Thú đắc cúng sự, bất ưng súc tích.
Thử tắc lược thuyết trì giới chi tướng. Giới thị chánh thuận giải thoát chi bổn, cố danh Ba-la-đề-mộc-xoa. Nhân y thử giới đắc sanh chư thiền định cập diệt khổ trí huệ. Thị cố tỳ-kheo đương trì tịnh giới, vật linh hủy khuyết. Nhược nhân năng trì tịnh giới, thị tắc năng hữu thiện pháp. Nhược vô tịnh giới, chư thiện công đức giai bất đắc sanh. Thị dĩ đương tri giới vi đệ nhất an ổn công đức chi sở trụ xứ.
2. GIỮ GIỚI LUẬT
(Phần Chánh tông)
"Tỳ-kheo các ông! Sau khi ta nhập diệt, nên tôn trọng, cung kính đối với giới luật, như ở chỗ tối tăm được thấy ánh sáng; như người nghèo được của báu. Nên biết rằng giới luật là thầy của các ông, cũng như ta đây còn trụ thế, không hề khác biệt.
"Người giữ giới trong sạch không được làm việc buôn bán đổi chác; mua giữ ruộng đất, nhà cửa; nuôi dưỡng nô tỳ, súc vật để cầu lợi. Tất cả những loại giống cây trồng cùng mọi thứ của cải quý báu đều phải nên xa lánh, như tránh xa hầm lửa vậy. Không được đốn chặt cây cỏ, cày ruộng, đào đất; bào chế thuốc thang; xem tướng lành dữ; nhìn sao trên trời để suy lường vận mệnh nên hư. Những việc xem ngày giờ tốt xấu đều chẳng nên làm.
"Hãy dè dặt giữ mình có tiết độ, ăn uống đúng giờ, nuôi sống bằng cách trong sạch. Không được tham dự những công việc của người đời, làm người đưa tin, làm sứ giả. Những việc như luyện chú thuật, thuốc tiên; giao hảo với người sang trọng, khinh thường kẻ thân cận gần gũi, đều không nên làm.
"Phải tự mình luôn giữ chánh niệm, tâm ngay thẳng cầu thoát sanh tử. Không được che giấu lỗi lầm, hay làm những việc dị thường để mê hoặc người khác. Đối với bốn món được cúng dường nên có chừng mực, biết vừa đủ. Khi được cúng dường, chẳng nên chứa trữ lại.
"Đó là nói sơ qua hình tướng của việc giữ giới. Giới luật chính là thuận theo gốc của giải thoát, cho nên gọi là Tùy thuận giải thoát. Nhờ nương theo giới luật mà sanh ra các môn thiền định và trí huệ diệt khổ. Vì vậy mà tỳ-kheo phải giữ giới trong sạch, không để có sự hủy phạm, thiếu sót. Nếu ai giữ giới trong sạch, ắt được các pháp lành. Nếu không giữ giới trong sạch, thì các công đức lành đều chẳng thể sanh ra. Nên phải biết rằng, giới luật là chỗ trụ an ổn bậc nhất sanh các công đức."

TAM – CHẾ TÂM
Nhữ đẳng tỳ-kheo! Dĩ năng trụ giới, đương chế ngũ căn, vật linh phóng dật, nhập ư ngũ dục. Thí như mục ngưu chi nhân, chấp trượng thị chi, bất linh túng dật, phạm nhân miêu giá. Nhược túng ngũ căn, phi duy ngũ dục tương vô nhai bạn, bất khả chế dã, diệc như ác mã bất dĩ bí chế, tương đương khiên nhân trụy ư khanh hãm. Như bị kiếp hại, khổ chỉ nhất thế. Ngũ căn tặc họa, ương cập lũy thế, vi hại thậm trọng, bất khả bất thận. Thị cố trí giả chế nhi bất tùy, trì chi như tặc, bất linh túng dật. Giả linh túng chi, giai diệc bất cửu kiến kỳ ma diệt
Thử ngũ căn giả, tâm vi kỳ chủ. Thị cố nhữ đẳng đương hảo chế tâm. Tâm chi khả úy, thậm ư độc xà, ác thú, oán tặc. Đại hỏa việt dật, vị túc dụ dã.
Thí như hữu nhân, thủ chấp mật khí, động chuyển khinh táo, đản quan ư mật, bất kiến thâm khanh. Thí như cuồng tượng vô câu, viên hầu đắc thọ, đằng dược tráo trịch, nan khả cấm chế. Đương cấp tỏa chi, vô linh phóng dật. Túng thử tâm giả, táng nhân thiện sự, chế chi nhất xứ, vô sự bất biện.
Thị cố tỳ-kheo đương cần tinh tấn, chiết phục nhữ tâm.
3. CHẾ TÂM
"Tỳ-kheo các ông! Đã có thể trụ yên nơi giới rồi, nên chế ngự năm căn, chớ để phóng dật, chạy theo năm dục. Ví như người chăn bò, cầm gậy canh giữ, chẳng để cho tự do chạy bậy, xâm phạm ruộng người.
"Nếu buông thả năm căn, chẳng những là chúng chạy theo năm dục không có giới hạn, không thể chế ngự được, lại như ngựa dữ không dây cương kiềm chế, sẽ lôi người xuống hầm hố. Như bị giặc cướp làm hại, chỉ khổ một đời này thôi, nhưng bị giặc năm căn gây hại, khổ nạn kéo dài nhiều kiếp, lại rất nặng nề, không thể không thận trọng.
"Vậy nên người có trí chế ngự các căn, chẳng hề tùy theo; phòng giữ như giặc cướp, không để buông thả. Nếu buông thả ra, chẳng bao lâu ắt phải diệt mất vì xúc chạm.
"Tâm là chủ của năm căn. Vậy nên các ông phải khéo chế ngự tâm. Tâm rất đáng sợ, hơn cả rắn độc, thú dữ, kẻ giặc thù, nạn lửa lớn tràn lan... Những thí dụ như thế cũng còn chưa đủ. Sự nguy cấp giống như người tay cầm bát mật, đi lại nhanh nhẹn, mắt chỉ nhìn vào mật nên chẳng thấy cái hố rất sâu dưới chân; như con voi điên không có móc sắt để kiềm giữ; lại như con vượn được lên cây, mặc tình nhảy nhót, khó bề ngăn cấm, chế ngự. Phải mau mau kiềm chế, chớ để phóng dật. Nếu buông thả tâm, tất cả việc lành sẽ bị hủy hoại mất; chế ngự được tâm rồi, không việc gì không xong.
"Vậy nên chư tỳ-kheo phải siêng năng tinh tấn, chế ngự cho được tâm."

TỨ – TIẾT THỰC
Nhữ đẳng tỳ-kheo! Thọ chư ẩm thực, đương như phục dược. Ư hảo, ư ố, vật sanh tăng giảm. Thú đắc chi thân, dĩ trừ cơ khát. Như phong thái hoa, đản thủ kỳ vị, bất tổn hương sắc. Tỳ-kheo diệc nhĩ, thọ nhân cúng dường, thú tự trừ não, vô đắc đa cầu, hoại kỳ thiện tâm. Thí như trí giả, trù lượng ngưu lực sở kham đa thiểu, bất linh quá phận, dĩ kiệt kỳ lực.
4. ĂN UỐNG CÓ TIẾT ĐỘ
"Tỳ-kheo các ông! Khi ăn uống nên xem như dùng thuốc để trị bệnh, dù ngon dù dở cũng chỉ dùng đúng mức, đưa vào thân thể chỉ để khỏi đói khát mà thôi.
"Như con ong hút mật, chỉ lấy nhụy hoa mà chẳng làm tổn hại hương sắc. Tỳ-kheo cũng vậy, nhận sự cúng dường của người ta đủ trừ đói khát, chẳng được tham cầu nhiều, tổn hại đến lòng lành của người; như kẻ khôn ngoan biết lượng sức con bò kéo, chẳng ép quá nặng khiến phải kiệt sức."

NGŨ – GIỚI THỤY MIÊN
Nhữ đẳng tỳ-kheo! Trú tắc cần tâm tu tập thiện pháp, vô linh thất thời. Sơ dạ, hậu dạ, diệc vật hữu phế; trung dạ tụng kinh, dĩ tự tiêu tức. Vô dĩ thụy miên nhân duyên linh nhất sanh không quá, vô sở đắc dã. Đương niệm vô thường chi hỏa thiêu chư thế gian. Tảo cầu tự độ, vật thụy miên dã.
Chư phiền não tặc thường tứ sát nhân, thậm ư oán gia. An khả thụy miên, bất tự cảnh ngộ? Phiền não độc xà thụy tại nhữ tâm, thí như hắc nguyên tại nhữ thất thụy. Đương dĩ trì giới chi câu, tảo bính trừ chi. Thụy xà ký xuất, nãi khả an miên. Bất xuất nhi miên, thị vô tàm nhân.
Tàm sỉ chi phục, ư chi trang nghiêm, tối vi đệ nhất. Tàm như thiết câu, năng chế nhân phi pháp. Thị cố tỳ-kheo thường đương tàm sỉ, vô đắc tạm thế. Nhược ly tàm sỉ, tắc thất chư công đức.
Hữu quý chi nhân, tắc hữu thiện pháp. Nhược vô quý giả, dữ chư cầm thú, vô tương dị dã.
5. ĐỪNG THAM NGỦ NHIỀU
"Tỳ-kheo các ông! Trọn ngày nên siêng năng tu tập thiện pháp, chẳng phí thời gian. Ban đêm, cũng chẳng nên bỏ mất lúc đầu hôm và lúc gần sáng. Còn lúc nửa đêm, lấy việc tụng kinh để tự biết mình. Đừng để việc ngủ mê làm cho một đời phải uổng phí không được gì cả. Thường nhớ đến ngọn lửa vô thường luôn thiêu đốt cõi thế, sớm lo cầu độ thoát lấy mình, chẳng ham mê ngủ. Giặc phiền não thường luôn rình rập giết hại người, độc hại hơn kẻ oán thù. Sao còn ham ngủ mà chẳng tự thức tỉnh? Con rắn độc phiền não đang ngủ trong tâm, như con trăn dữ đang ngủ trong nhà. Hãy dùng cái móc sắt trì giới mà sớm trừ bỏ đi. Con rắn mê ngủ ấy trừ được rồi, mới có thể ngủ yên được. Chưa trừ được rắn ấy mà vẫn ngủ là không biết tự hổ thẹn.
"Lấy sự tự hổ thẹn làm trang phục, đó là bậc nhất trong các món trang sức làm đẹp. Hổ thẹn giống như cái móc sắc, có thể giúp chế ngự được việc làm sai trái. Nên tỳ-kheo thường luôn phải biết tự hổ thẹn, không lúc nào lơ đễnh. Nếu mình lìa khỏi sự hổ thẹn, ắt phải mất hết các công đức.
"Người biết xấu hổ thì mới làm được điều lành. Kẻ không biết xấu hổ, chẳng khác chi loài cầm thú."

LỤC – GIỚI SÂN NHUẾ
Nhữ đẳng tỳ-kheo! Nhược hữu nhân lai tiết tiết chi giải, đương tự nhiếp tâm, vô linh sân hận; diệc đương hộ khẩu, vật xuất ác ngôn. Nhược túng nhuế tâm, tắc tự phương đạo, thất công đức lợi.
Nhẫn chi vi đức, trì giới, khổ hạnh sở bất năng cập. Năng hành nhẫn giả, nãi khả danh vi hữu lực đại nhân. Nhược kỳ bất năng hoan hỷ nhẫn thọ ác mạ chi độc như ẩm cam lộ giả, bất danh nhập đạo trí huệ nhân dã.
Sở dĩ giả hà? Sân nhuế chi hại tắc phá chư thiện pháp, hoại hảo danh văn; kim thế, hậu thế nhân bất hỷ kiến.
Đương tri sân tâm thậm ư mảnh hỏa, thường đương phòng hộ, vô linh đắc nhập. Kiếp công đức tặc, vô quá sân nhuế. Bạch y thọ dục, phi hành đạo nhân vô pháp tự chế, sân du khả thứ. Xuất gia hành đạo vô dục chi nhân, nhi hoài sân nhuế, thậm bất khả dã! Thí như thanh lãnh vân trung, tịch lịch khởi hỏa, phi sở ưng dã.
6. KHÔNG NÓNG GIẬN
"Tỳ-kheo các ông! Nếu có người đến cắt xẻo thân thể ra từng mảnh, hãy tự nhiếp tâm không nên nóng giận; cũng phòng hộ nơi miệng, chớ nói lời ác độc. Nếu buông thả tâm nóng giận là tự mình làm hại đạo, mất hết lợi ích công đức.
"Nhẫn nhục là đức tính mà trì giới với khổ hạnh cũng chẳng bì kịp. Người có thể nhẫn nhục mới đáng gọi là bậc đại nhân có sức mạnh. Như người chẳng thể vui lòng nhận lời mắng chửi độc ác như uống nước cam lộ, thì chẳng thể gọi là bậc trí huệ đã nhập đạo. Tại sao vậy? Cái hại của sự nóng giận là phá hoại các pháp lành, làm mất danh tiếng tốt, khiến cho đời này và đời sau chẳng ai muốn gặp gỡ mình.
"Nên biết rằng tâm nóng giận còn hơn cả lửa dữ, phải thường phòng hộ, không để cho nhập vào. Giặc cướp công đức, không gì hơn tâm nóng giận. Người thế tục thọ hưởng dục lạc, chẳng phải người hành đạo nên không có cách tự chế, nóng giận còn có thể tha thứ được; như người xuất gia hành đạo, không tham dục, mà còn ôm giữ sự nóng giận, thật không thể được. Như giữa trời xanh trong mát mà có sấm sét nảy lửa, thật không phải việc đáng có."

THẤT – GIỚI KIÊU MẠN
Nhữ đẳng tỳ-kheo! Đương tự ma đầu, dĩ xả sức hảo, trước hoại sắc y, chấp trì ứng khí, dĩ khất tự hoạt. Tự kiến như thị, nhược khởi kiêu mạn, đương tật diệt chi. Tăng trưởng kiêu mạn, thượng phi thế tục bạch y sở nghi, hà huống xuất gia nhập đạo chi nhân, vị giải thoát cố, tự giáng kỳ thân nhi hành khất da?
7. ĐỪNG KIÊU MẠN
"Tỳ-kheo các ông! Khi tự xoa đầu nhớ rằng đã xả bỏ những món trang sức đẹp, mặc áo hoại sắc, ôm giữ ứng khí lấy việc xin ăn mà nuôi sống. Tự thấy như vậy, nếu khởi tâm kiêu mạn thì hãy mau trừ bỏ đi. Người thế tục còn chẳng nên để lòng kiêu mạn tăng trưởng, huống chi là những kẻ xuất gia nhập đạo đã vì muốn được giải thoát mà tự hạ mình đi xin ăn?"

BÁT – GIỚI SIỂM KHÚC
Nhữ đẳng tỳ-kheo! Siểm khúc chi tâm dữ đạo tương vi. Thị cố nghi ưng chất trực kỳ tâm. Đương tri siểm khúc đản vi khi cuống, nhập đạo chi nhân tắc vô thị xứ. Thị cố nhữ đẳng nghi đương đoan tâm, dĩ chất trực vi bổn.
8. TRỪ TÂM SIỂM KHÚC
"Tỳ-kheo các ông! Tâm siểm khúc là trái với đạo. Vì vậy nên cần phải giữ lòng chơn chất, ngay thẳng. Nên biết rằng tâm siểm khúc chỉ là để lừa dối. Người nhập đạo ắt không như vậy. Các ông nên giữ lòng đoan chánh, lấy sự chơn chất ngay thẳng làm gốc."

CỬU – THIỂU DỤC
Nhữ đẳng tỳ-kheo! Đương tri đa dục chi nhân, đa cầu lợi cố, khổ não diệc đa. Thiểu dục chi nhân, vô cầu vô dục, tắc vô thử hoạn. Trực nhĩ thiểu dục, thượng nghi tu tập, hà huống thiểu dục năng sanh chư công đức? Thiểu dục chi nhân tắc vô siểm khúc dĩ cầu nhân ý, diệc phục bất vi chư căn sở khiên. Hành thiểu dục giả, tâm tắc thản nhiên, vô sở ưu úy. Xúc sự hữu dư, thường vô bất túc. Hữu thiểu dục giả, tắc hữu Niết-bàn. Thị danh thiểu dục.
9. ÍT HAM MUỐN
"Tỳ-kheo các ông! Nên biết rằng người nhiều ham muốn luôn cầu được nhiều món lợi, nên khổ não cũng nhiều. Người ít ham muốn không bị sự mong cầu, ham muốn gây ra cái hại ấy. Chỉ một việc ít ham muốn đó, rất nên tu tập; huống chi ít ham muốn lại có thể sanh ra các công đức nữa?
"Người ít ham muốn thì không có tâm siểm khúc để cầu cho được vừa lòng người, lại cũng không bị các căn dắt dẫn. Người thực hành ít ham muốn thì lòng được thản nhiên, không lo sợ chi cả; cho dù gặp việc thế nào cũng tự thấy đầy đủ. Giữ tâm ít ham muốn, ắt được Niết-bàn.
"Như vậy gọi là ít ham muốn."

THẬP – TRI TÚC
Nhữ đẳng tỳ-kheo! Nhược dục thoát chư khổ não, đương quán tri túc. Tri túc chi pháp, tức thị phú lạc, an ổn chi xứ. Tri túc chi nhân tuy ngọa địa thượng, du vi an lạc. Bất tri túc giả, tuy xử thiên đường, diệc bất xứng ý! Bất tri túc giả, tuy phú nhi bần. Tri túc chi nhân, tuy bần nhi phú. Bất tri túc giả, thường vi ngũ dục sở khiên, vi tri túc giả chi sở lân mẫn. Thị danh tri túc.
10. BIẾT ĐỦ
"Tỳ-kheo các ông! Nếu muốn thoát khỏi mọi khổ não, nên quán xét việc biết đủ. Phép biết đủ chính là chỗ giàu có, vui vẻ, an ổn. Người biết đủ dù nằm trên mặt đất, vẫn thấy yên vui. Người không biết đủ, dù ở trên cảnh trời cũng chưa thỏa ý.
"Kẻ không biết đủ, tuy giàu mà nghèo. Người biết đủ, tuy nghèo mà giàu. Kẻ không biết đủ thường bị năm dục dắt dẫn, nên người biết đủ lấy làm thương xót lắm.
"Như vậy gọi là sự biết đủ."

THẬP NHẤT – VIỄN LY
Nhữ đẳng tỳ-kheo! Dục cầu tịch tĩnh, vô vi, an lạc, đương ly hội náo, độc xử nhàn cư.
Tĩnh xử chi nhân, Đế-thích, chư thiên sở cộng kính trọng. Thị cố đương xả kỷ chúng, tha chúng, không nhàn độc xử, tư diệt khổ bổn. Nhược nhạo chúng giả, tắc thọ chúng não. Thí như đại thọ, chúng điểu tập chi, tắc hữu khô chiết chi hoạn. Thế gian phược trước, một ư chúng khổ. Thí như lão tượng nịch nê, bất năng tự xuất. Thị danh viễn ly.
11. XA LÌA
"Tỳ-kheo các ông! Muốn cầu tịch tĩnh, vô vi, an lạc, nên lìa chỗ tụ họp huyên náo, một mình ở nơi thanh vắng. Người ở nơi yên tĩnh, Đế-thích và chư thiên đều kính trọng. Vì vậy, chúng hội của mình, của người khác đều nên xả bỏ, đến ở một mình nơi chỗ thanh vắng, suy nghĩ mà diệt tận gốc khổ.
"Nếu ưa thích nơi chúng hội, tất phải chịu mọi khổ não. Ví như cây lớn, có nhiều chim chóc tụ họp, tất không khỏi mối họa cành nhánh khô gãy. Bị vướng buộc vào cảnh thế tục, tất phải chìm đắm trong bể khổ, như con voi già sa lầy, chẳng thể tự ra khỏi được.
"Như vậy gọi là sự xa lìa."

THẬP NHỊ – TINH TẤN
Nhữ đẳng tỳ-kheo! Nhược cần tinh tấn, tắc sự vô nan giả. Thị cố nhữ đẳng đương cần tinh tấn. Thí như tiểu thủy trường lưu, tắc năng xuyên thạch. Nhược hành giả chi tâm sác sác giải phế, thí như toàn hỏa, vị nhiệt nhi tức. Tuy dục đắc hỏa, hỏa nan khả đắc. Thị danh tinh tấn.
12. TINH TẤN
"Tỳ-kheo các ông! Nếu chuyên cần tinh tấn thì không có việc chi là khó. Bởi vậy, các ông nên chuyên cần tinh tấn. Ví như dòng nước nhỏ mà chảy mãi thì cũng làm mòn thủng được hòn đá. Nếu trong tâm người tu giải đãi, biếng nhác, cũng giống như người xát cây lấy lửa, chưa nóng đã vội ngưng nghỉ. Dù người ấy muốn được lửa cũng khó mà được.
"Như vậy gọi là sự tinh tấn."

THẬP TAM – BẤT VONG NIỆM
Nhữ đẵng tỳ-kheo! Cầu thiện tri thức, cầu thiện hộ trợ, vô như bất vong niệm. Nhược hữu bất vong niệm giả, chư phiền não tặc tắc bất năng nhập. Thị cố nhữ đẳng thường đương nhiếp niệm tại tâm. Nhược thất niệm giả, tắc thất chư công đức. Nhược niệm lực kiên cường, tuy nhập ngũ dục tặc trung, bất vi sở hại. Thí như trước khải nhập trận, tắc vô sở úy. Thị danh bất vong niệm.
13. KHÔNG MẤT CHÁNH NIỆM
"Tỳ-kheo các ông! Cầu được bậc thiện tri thức, cầu được người khéo phù trợ, cũng không bằng chẳng để mất chánh niệm. Nếu người không mất chánh niệm, giặc phiền não chẳng xâm nhập được. Vậy nên các ông phải thường thâu nhiếp chánh niệm trong tâm. Nếu để mất chánh niệm thì mất hết công đức. Như niệm lực được mạnh mẽ, bền bỉ, thì dù vào giữa đám giặc năm dục cũng chẳng bị hại; cũng như mặc áo giáp ra trận thì không sợ chi cả.
"Như vậy gọi là không mất chánh niệm."

THẬP TỨ – THIỀN ĐỊNH
Nhữ đẳng tỳ-kheo! Nhược nhiếp tâm giả, tâm tắc tại định. Tâm tại định cố, năng tri thế gian sanh diệt pháp tướng. Thị cố nhữ đẳng thường đương tinh tấn tu tập chư định. Nhược đắc định giả, tâm tắc bất tán. Thí như tích thủy chi gia, thiện trì đê đường. Hành giả diệc nhĩ, vị trí huệ thủy cố, thiện tu thiền định, linh bất lậu thất. Thị danh vi định.
14. THIỀN ĐỊNH
"Tỳ-kheo các ông! Nếu người nhiếp tâm thì tâm được định. Nhờ tâm được định, có thể biết được các tướng của pháp sanh diệt ở thế gian. Vậy nên các ông thường phải tinh tấn tu tập các phép định. Nếu người được định thì tâm chẳng tán loạn. Ví như người muốn giữ nước, phải khéo đắp sửa bờ đê. Người tu cũng thế, vì giữ nước trí huệ, nên khéo tu thiền định, chẳng để cho rỉ chảy mất.
"Như vậy gọi là định."

THẬP NGŨ – TRÍ HUỆ
Nhữ đẳng tỳ-kheo! Nhược hữu trí huệ, tắc vô tham trước, thường tự tỉnh sát, bất linh hữu thất. Thị tắc ư ngã pháp trung, năng đắc giải thoát. Nhược bất nhĩ giả, ký phi đạo nhân, hựu phi bạch y, vô sở danh dã. Thật trí huệ giả tắc thị độ lão bệnh tử hải kiên lao thuyền dã, diệc thị vô minh hắc ám đại minh đăng dã; nhất thiết bệnh giả chi lương dược dã; phạt phiền não thọ chi lợi phủ dã. Thị cố nhữ đẳng đương dĩ văn tư tu huệ nhi tự tăng ích. Nhược nhân hữu trí huệ chi chiếu, tuy thị nhục nhãn, nhi thị minh kiến nhân dã. Thị danh trí huệ.
15. TRÍ HUỆ
"Tỳ-kheo các ông! Nếu có trí huệ thì không tham đắm, vướng mắc. Thường tự xét mình, chẳng để có sai sót. Như vậy thì ở trong pháp ta có thể được giải thoát. Nếu chẳng được vậy, thì chẳng phải người tu đạo, cũng chẳng phải người thế tục, chẳng có tên để gọi.
"Trí huệ thật là chiếc thuyền bền chắc đưa người vượt qua biển già, bệnh, chết; lại như ngọn đèn lớn sáng soi trong chỗ vô minh đen tối; như món thuốc hay trị được hết thảy bệnh tật; như cái rìu sắc bén đốn ngã cây phiền não. Vậy nên các ông phải lấy các môn trí huệ là nghe biết, suy xét, tu tập mà tự làm tăng thêm phần ích lợi. Nếu người được sự chiếu sáng của trí huệ, thì dù chỉ có mắt thịt, nhưng chính thật là người thấy rõ tất cả. Như vậy gọi là trí huệ."

THẬP LỤC – BẤT HÝ LUẬN
Nhữ đẳng tỳ-kheo! Nhược chủng chủng hý luận, kỳ tâm tắc loạn. Tuy phục xuất gia, du vị đắc thoát. Thị cố tỳ-kheo đương cấp xả ly loạn tâm hý luận. Nhược nhữ đẳng dục đắc tịch diệt lạc giả, duy đương thiện diệt hý luận chi hoạn. Thị danh bất hý luận.
16. KHÔNG NÓI ĐÙA
"Tỳ-kheo các ông! Nếu nói đủ thứ chuyện chỉ cốt để đùa chơi thì tâm phải tán loạn. Như vậy cho dù xuất gia nhưng chưa được giải thoát. Vì thế mà tỳ-kheo phải mau mau lìa bỏ việc loạn tâm nói đùa. Nếu các ông muốn được niềm vui tịch diệt, chỉ nên khéo dứt trừ mối hại của việc nói đùa.
"Như vậy gọi là không nói đùa."

THẬP THẤT – TỰ MIỄN
Nhữ đẳng tỳ-kheo! Ư chư công đức, thường đương nhất tâm. Xả chư phóng dật, như ly oán tặc. Đại bi Thế Tôn sở thuyết lợi ích, giai dĩ cứu cánh. Nhữ đẳng đản đương cần nhi hành chi. Nhược ư sơn gian, nhược không trạch trung, nhược tại thọ hạ, nhàn xử tĩnh thất, niệm sở thọ pháp, vật linh vong thất. Thường đương tự miễn, tinh tấn tu chi. Vô vi không tử, hậu trí hữu hối.
Ngã như lương y, tri bệnh thuyết dược. Phục dữ bất phục, phi y cữu giã. Hựu như thiện đạo, đạo nhân thiện đạo. Văn chi bất hành, phi đạo quá dã.
17. TỰ GẮNG SỨC
"Tỳ-kheo các ông! Đối với các công đức thường nên hết lòng. Từ bỏ sự phóng dật như tránh xa giặc thù. Những chỗ lợi ích mà đức Đại bi Thế Tôn đã thuyết đều có thể lấy làm cứu cánh, các ông phải nên siêng năng thực hành. Như khi ở chốn núi cao hoặc chỗ đầm lầy vắng vẻ, hoặc dưới gốc cây, hoặc buông bỏ mọi việc vào ở trong nhà vắng, đều phải luôn nghĩ nhớ đến các pháp đã thọ học, đừng để quên mất, thường tự gắng sức tinh tấn tu tập. Chớ để uổng phí cả một đời mà sau nầy phải hối tiếc.
"Ta như thầy thuốc, biết bệnh cho thuốc. Người bệnh chịu uống thuốc ấy hay không, chẳng phải do lỗi nơi thầy thuốc. Lại cũng như người khéo chỉ đường, chỉ cho mọi người con đường tốt. Nghe rồi mà chẳng đi theo, thật chẳng phải lỗi nơi người chỉ đường."

THẬP BÁT – QUYẾT NGHI
Nhữ đẳng nhược ư khổ đẳng Tứ đế, hữu sở nghi giả, khả tật vấn chi. Vô đắc hoài nghi, bất cầu quyết dã.
Nhĩ thời, Thế Tôn như thị tam xướng, nhân vô vấn giả. Sở dĩ giả hà? Chúng vô nghi cố.
Thời, A-nậu-lâu-đà quán sát chúng tâm, nhi bạch Phật ngôn:
Thế-Tôn! Nguyệt khả linh nhiệt, nhật khả linh lãnh, Phật thuyết Tứ đế bất khả linh dị. Phật thuyết Khổ đế thật khổ, bất khả linh lạc. Tập chân thị nhân, cánh vô dị nhân. Khổ nhược diệt giả, tức thị nhân diệt. Nhân diệt, cố quả diệt. Diệt khổ chi đạo, thật thị chân đạo, cánh vô dư đạo.
Thế Tôn! Thị chư tỳ-kheo, ư Tứ đế trung, quyết định vô nghi.
18. DỨT LÒNG NGHI
"Nếu các ông có chỗ nghi ngờ nơi pháp Tứ đế, thì mau hỏi đi. Đừng ôm lòng nghi mà chẳng cầu được làm rõ."
Lúc ấy, đức Thế Tôn nói đến ba lần như vậy, nhưng không ai hỏi chi cả. Vì sao vậy? Vì trong chúng hội thật không ai còn có lòng nghi.
Bấy giờ, A-nậu-lâu-đà quán biết tâm ý của cả chúng hội, liền bạch Phật rằng:
"Bạch Thế Tôn! Mặt trăng có thể làm cho nóng lên, mặt trời lạnh đi, nhưng Phật thuyết pháp Tứ đế, không thể nào làm cho sai khác. Phật thuyết Khổ đế, quả thật là khổ, không thể nói thành vui. Nói Tập đế là nhân, thật là không còn có nhân nào khác nữa. Nếu diệt được khổ, tức là nhân đã diệt. Chính vì nhân đã diệt nên quả phải diệt. Đạo diệt khổ thật là đạo chân chánh, không còn đạo nào khác nữa.
"Bạch Thế Tôn! Chư tỳ-kheo nay đối với pháp Tứ đế đã tin chắc không có lòng nghi."

THẬP CỬU – CHÚNG SANH ĐẮC ĐỘ
Ư thử chúng trung, sở tác vị biện giả, kiến Phật diệt độ, đương hữu bi cảm. Nhược hữu sơ nhập pháp giả, văn Phật sở thuyết, tức giai đắc độ. Thí như dạ kiến điện quang, tức đắc kiến đạo. Nhược sở tác dĩ biện, dĩ độ khổ hải giả, đản tác thị niệm: Thế Tôn diệt độ, nhất hà tật tai?
A-nậu-lâu-đà tuy thuyết thị ngữ, chúng trung giai tất liễu đạt Tứ thánh đế nghĩa.
Thế-Tôn dục linh thử chư đại chúng giai đắc kiên cố, dĩ đại bi tâm, phục vị chúng thuyết:
Nhữ đẳng tỳ-kheo! Vật hoài bi não. Nhược ngã trụ thế nhất kiếp, hội diệc đương diệt. Hội nhi bất ly, chung bất khả đắc. Tự lợi, lợi tha, pháp giai cụ túc. Nhược ngã cửu trụ, cánh vô sở ích. Ưng khả độ giả, nhược thiên thượng, nhân gian, giai tất dĩ độ. Kỳ vị độ giả, giai diệc dĩ tác đắc độ nhân duyên.
19. CHÚNG SANH ĐƯỢC ĐỘ THOÁT
"Trong chúng hội này, những người chưa đắc quả A-la-hán thấy Phật nhập diệt, ắt sanh lòng bi cảm. Những người vừa mới vào cửa Pháp, nghe lời Phật thuyết ắt sẽ được độ thoát ngay. Như trong đêm tối vừa có tia chớp sáng liền thấy đường đi. Còn những người đã đắc quả A-la-hán, vượt qua biển khổ, thì chỉ nghĩ rằng: Đức Thế Tôn diệt độ sớm thế sao!"
Tuy A-nậu-lâu-đà nói ra lời ấy, nhưng trong chúng hội ai nấy đều đã hiểu rõ nghĩa của Bốn Thánh đế.
Đức Thế Tôn muốn cho đại chúng đều được lòng kiên cố, nên lấy tâm đại bi, lại vì cả chúng hội mà nói lời này:
"Tỳ-kheo các ông! Đừng ôm lòng bi thương áo não. Như ta có trụ thế trọn một kiếp, cuối cùng cũng phải diệt độ. Hợp mà không tan, thật không thể được. Chỗ lợi mình, lợi người, trong pháp ta đều đã dạy đủ. Nếu ta ở đời lâu nữa cũng không có ích gì. Những ai có thể cứu độ, ở cõi trời, người, đều đã được cứu độ. Còn những ai chưa thể cứu độ, ta cũng đã tạo nhân duyên cứu độ về sau rồi."

NHỊ THẬP – PHÁP THÂN THƯỜNG TẠI
Tự kim dĩ hậu, ngã chư đệ tử triển chuyển hành chi, tắc thị Như Lai Pháp thân thường tại nhi bất diệt dã. Thị cố đương tri thế giai vô thường, hội tất hữu ly. Vật hoài ưu não.
Thế tướng như thị. Đương cần tinh tấn, tảo cầu giải thoát, dĩ trí huệ minh, diệt chư si ám. Thế thật nguy tụy, vô kiên lao giả. Ngã kim đắc diệt, như trừ ác bệnh. Thử thị ưng xả tội ác chi vật, giả danh vi thân, một tại lão, bệnh, sanh, tử đại hải. Hà hữu trí giả đắc trừ diệt chi, như sát oán tặc, nhi bất hoan hỷ?
20. PHÁP THÂN CÒN MÃI
(Phần Lưu thông)
"Từ nay về sau, đệ tử của ta cứ tuần tự y theo nơi pháp mà thực hành. Như vậy là Pháp thân của Như Lai vẫn thường còn chẳng mất. Nên phải biết rằng mọi việc trong đời đều vô thường, có tụ hội ắt có chia lìa. Đừng ôm lòng sầu khổ nữa, hình tướng ở đời là như thế. Hãy siêng năng tinh tấn, sớm cầu giải thoát, đem ánh sáng trí huệ mà trừ diệt ngu si u ám. Cuộc đời thật là mong manh, nguy hiểm, không gì bền chắc. Nay ta sắp nhập diệt, như trừ xong bệnh dữ. Cái hình tướng tội lỗi ác độc đáng xả bỏ này, giả tạm mà gọi là cái thân, chìm đắm trong chốn biển lớn sanh tử, bệnh lão. Có bậc trí nào đã dứt trừ được nó, như giết được kẻ giặc thù mà lại không vui?"

NHỊ THẬP NHẤT – KẾT LUẬN
Nhữ đẳng tỳ-kheo! Thường đương nhất tâm, cần cầu xuất đạo. Nhất thiết thế gian động bất động pháp, giai thị bại hoại bất an chi tướng. Nhữ đẳng thả chỉ, vật đắc phục ngữ. Thời tương dục quá, ngã dục diệt độ. Thị ngã tối hậu chi sở giáo hối.
21. KẾT LUẬN
"Tỳ-kheo các ông! Thường nên hết lòng chuyên cần cầu học đạo giải thoát. Hết thảy các pháp động và bất động ở thế gian đều là tướng bại hoại, chẳng an ổn. Các ông thôi đừng nói gì nữa. Thời giờ sắp qua, ta sắp diệt độ. Đây là những lời dạy dỗ cuối cùng của ta vậy."
THANK YOU Quote
25-05-2017, 07:39 PM (Được chỉnh sửa: 25-05-2017 07:46 PM bởi dieuquang.)
Bài viết: #209
RE: NEW TOPIC'S DQ
MỐC SỰ KIỆN trong đời Đức PHẬT THÍCH CA ( tóm gọn những mốc chánh)

[Hình: attachment.php?aid=13513]

Thân thế của Đức Phật?
Đức Phật Thích Ca Mâu xuất thân là một Thái tử, tên Tất-Đạt-Đa, dòng họ Cồ Đàm, Vương tộc Thích Ca, thuộc đẳng cấp Sát-đế-lợi, con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma- Da

Đức Phật đản sinh vào ngày?
Ngài sinh vào ngày Rằm tháng Tư năm 624 trước Tây lịch (theo Nam tông); mùng Tám tháng Tư (theo Bắc tông) tại vườn Lâm-tỳ-ni, nước Ca-tỳ-la-vệ.

Hoàn cảnh của đức Phật trước khi xuất gia?
Bảy ngày sau khi Thái tử đản sanh, hoàng hậu Ma-Da từ trần. Khi lớn lên, Ngài đã có tư tưởng muốn thoát ly, tầm đạo nhưng theo lệnh vua cha, Ngài cưới công chúa Da-Du-Đà-La là con vua Thiện Giác ở nước Kosala. Thái tử và công chúa Da-Du-Đà-La có một người con trai là La-Hầu-La.

Nguyên nhân khiến đức Phật xuất gia tầm đạo?
Thái tử thấy bốn cảnh: Già, bệnh, chết và vị Tu Sĩ ở bốn cửa thành sau những lần đi dạo:
- Cửa thành phía Đông: Gặp một người già
- Cửa thành phía Nam: Gặp một người bệnh
- Cửa thành phía Tây: Gặp một người chết
- Cửa thành phía Bắc: Gặp một vị Tu sĩ, Ngài quyết định rời bỏ ngôi báu, cung điện, vợ con…, để lên đường
tầm đạo.

Đức Phật yêu cầu Vua cha Tịnh Phạn bốn điều gì ?
- Làm sao cho con trẻ mãi không già.
- Làm sao cho con mạnh mãi không đau
- Làm sao cho con sống hoài không chết
- Làm sao cho mọi người hết khổ

Sự xuất gia của đức Phật diễn ra như thế nào?
-Vào lúc nửa đêm, Thái tử vào phòng từ giã vợ đẹp con ngoan.
-Ngài cùng Xa Nặc hướng về phía Đông vượt thành xuất gia.
- Vượt dòng sông A-Nô-Ma, Ngài tự cạo bỏ râu tóc và khoác áo Sa môn.
- Ngài xuất gia vào ngày mùng 8 tháng 2 âm lịch
Từ khi đức Phật thành đạo đến Niết Bàn

Quá trình năm năm tầm đạo của đức Phật?
- Tại Tỳ Xá Ly, Thái tử tham học với Đạo sư A-La-La. Ngài đã chứng thiền Vô Sở Hữu Xứ.
- Tại Vương Xá Thành, Thái tử tham học với Đạo sư Uất-Đầu-Lam-Phất. Ngài đã chứng quả vị Phi Tưởng phi
Phi Tưởng Xứ.

Sáu năm tu khổ hạnh?
Có hai phương pháp khổ hạnh:
- Phương pháp hướng nội: Nghiến răng, chặn lưỡi trên nóc họng, kiềm hãm ý niệm bất thiện bằng ý niệm thiện
- Phương pháp hướng ngoại: Chỉ đứng và ngồi chứ không nằm. Khi cần nằm thì nằm trên gai nhọn.
Mùa đông: Mặc toàn giẻ rách, vải lượm tử thi, rơm cỏ, da súc vật khô,…
Mùa hè: Ban ngày sống dưới ánh nắng mặt trời, ban đêm sống trong rừng rậm…

Phương pháp sống lúc này của đức Phật?
Nhận thấy hành khổ hạnh không kết quả, Ngài đã thọ dụng bát cháo sữa của cô bé Sujata, trở lại con đường trung đạo để tu hành.

Đức Phật có phương pháp Thiền định như nào?
Thái tử đã ngồi nhập định suốt 49 ngày đêm dưới cội Bồ-đề. Phương pháp hành thiền đưa đến giác ngộ gồm bốn giai đoạn nhập định là: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền.
Trong đêm thứ 49 Ngài chứng được Tam minh (tức là Túc mạng minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh). Lúc đó nhằm ngày mùng 8 tháng 12 âm lịch, khi ấy Ngài 30 tuổi.

Người đệ tử đầu tiên của Đức Phật là ai?
Sau khi thành đạo người đầu tiên Đức Phật nghĩ đến để dạy đạo là hai vị thầy trước đây: A - La - La và Uất - Đầu - Lam - Phất. Nhưng họ đã chết.
Tiếp theo Ngài nghĩ đến năm người bạn đồng tu tại vườn Nai (Lộc Uyển). Mấy người bạn ấy là các ông: Kiều Trần Như, Ác Bệ Thập Lực, Ma Ha Nam và Bạc Đề. Năm vị này là đệ tử đầu tiên của Đức Phật.

Người đệ tử cuối cùng của đức Phật là ai?
Ông Phạm chí tên Tu Bạt Đà La đã 120 tuổi là người đệ tử cuối cùng của Đức Phật.

Có mấy hạng đệ tử của đức Phật?
Có bốn hạng đệ tử. Đó là:
- Tỳ Kheo
- Tỳ Kheo Ni
- Ưu Bà Tắc
- Ưu Bà Di
Người cúng dường sau cùng cho đức Phật là ai?
Ông Thuần Đà là người sau cùng dâng cúng dường Đức Phật một bát cháo nấm.

Bài Pháp đầu tiên mà đức Phật thuyết giảng là bài nào?
Bài Pháp đầu tiên của Đức Phật là Tứ Diệu Đế, thuyết cho năm người bạn đồng tu tại vườn Nai (Lộc Uyển).
Tứ Diệu Đế: nhận định đời là khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường diệt khổ.

Bài pháp cuối cùng?
Bài thuyết Pháp cuối cùng của đức Phật là bài Kinh Di Giáo

Năm thời Kinh đức Phật thuyết giảng là gì?
- Kinh Hoa Nghiêm
- Kinh A Hàm
- Kinh Phương Đẳng
- Kinh Bát Nhã
- Kinh Pháp Hoa

Sự hóa độ của đức Phật bao gồm những gì?
- Hóa độ theo thứ lớp căn cơ
- Hóa độ tùy phương tiện
- Hóa độ theo tinh thần bình đẳng

Tam Bảo được hình thành khi nào?
Tam Bảo được hình thành từ khi Đức Phật thuyết pháp và thâu nhận năm vị đệ tử đầu tiên tại Vườn Nai.
Lúc bấy giờ có Phật, Pháp và Tăng.

Đức Phật nhập Niết Bàn khi nào?
Khi phước duyên hoàn mãn, Đức Phật đã 80 tuổi. Ngài quyết định nhập Niết Bàn tại rừng Sa-la ở xứ Câu –ly, cách thành Ba-la-nại chừng 120 dặm. Lúc ấy ngày rằm tháng hai âm lịch năm 544.

Niên lịch của Phật Thích Ca
(Theo kinh điển Đại Thừa)
- Phật đản sinh ngày 8 tháng 4 (Trước Chúa giáng sinh 624
năm. Nếu tính theo năm Phật nhập diệp thì trước Chúa
giánh sinh 544 năm)
- 19 tuổi xuất gia, nhằm ngày 8 tháng 2
- 5 năm tầm học các đạo
- 6 năm tu khổ hạnh
- 49 ngày nhập định
- 30 tuổi thành đạo, nhằm ngày mùng 8 tháng Chạp
- 49 năm thuyết pháp độ đời
- 80 tuổi nhập Niết Bàn, nhằm ngày Rằm tháng 2


File đính kèm Thumbnail(s)
   
THANK YOU Quote
27-05-2017, 10:06 PM
Bài viết: #210
RE: NEW TOPIC'S DQ
LOVE

[Hình: attachment.php?aid=13514]

[Hình: attachment.php?aid=13515]

[Hình: attachment.php?aid=13516]

[Hình: attachment.php?aid=13517]


File đính kèm Thumbnail(s)
               
THANK YOU Quote


Chuyển nhanh:


Đang xem chủ đề này: 1 Khách

Liên hệ | Gốc Quê | Lên trên | Nội dung | Bản rút gọn | Tin RSS