Đánh giá chủ đề:
  • 0 Votes - 0 Average
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
PPS nhạc thu & NHẠC KHÁC...
13-11-2017, 05:34 PM (Được chỉnh sửa: 14-11-2017 05:49 AM bởi dieuquang.)
Bài viết: #41
RE: PPS nhạc thu & NHẠC KHÁC...
MÙA THU LẠI TỚI, CHỦ ĐỀ NÀY NHƯ THẾ LÀ HƠN NĂM.DQ HÔM NAY CHỈ GỬI LÊN ÍT CÂU CHUYỆN VỀ THƠ NHẠC LIÊN QUAN ĐẾN THU.( trong đoạn in nghiêng là trích dẫn từ các bài thơ & nhạc trong ngoặc đơn do dq tìm hiểu nên có gì sơ sót hay mượn bài các tác giả liên quan xin cám ơn và thứ lỗi)

Trời đã vào Thu với màu ảm đạm, với gió heo may se sắt lạnh lùng và những chiếc lá vàng nhẹ rơi bỏ lại thân cây trơ trọi. Nhắc đến mùa Thu, có lẽ ai cũng nhớ đến bài tập đọc “Tôi đi học” của Thanh Tịnh trong tập truyện “ Quê Mẹ”. Bài đoản văn bất hủ đã làm bao học trò ngày xưa ấy rung động:

Hằng năm cứ vào cuối Thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại náo nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.
Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường nầy tôi đã quen đi lại nhiều lần nhưng lần nầy tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.

Trong bốn mùa của thiên nhiên có lẽ mùa Thu làm cho con người bâng khuâng hoài cảm nhiều nhất và là nguồn cảm hứng bất tận , đã có biết bao nhiêu vần thơ điệu nhạc nói về mùa Thu.

Mùa thu là mùa của tình yêu, mùa của lá vàng rơi rụng. Mùa thu là mùa của những cặp tình nhân dìu nhau đi dưới nắng thu để thưởng thức bầu không khí mát mẻ trong lành, rồi trao cho nhau những nụ hôn nồng cháy để rồi cùng nhau nhìn lá vàng rơi, rơi cuốn theo gió tận cuối chân trời.

Hình ảnh gắn liền với mùa Thu nhất có lẽ là chiếc lá vàng . Ai đã từng đi qua phố vắng dưới ánh nắng chiều thu khi lá vàng lác đác rơi qua mái đầu và rớt xuống đất, mới cảm thấy được cái đẹp tuyệt vời của mùa thu, mới rung cảm theo nhịp của lá vàng đang rơi, rung cảm theo những tia nắng thu dịu hiền vươn mãi đến tận chân trời xa thăm thẳm. Nói đến mùa thu là nói đến mùa của lá vàng bay, mùa của lá vàng rơi, mùa của lá vàng khô rụng khắp mọi nẻo đường.

Từ đó ta có những vần thơ tuyệt vời cho lá Thu như 4 câu thơ dưới đây trong bài “ Cây bàng cuối Thu” của nhà thơ Nguyễn Bính

Thu sang trên những cành bàng
Chỉ còn hai chiếc lá vàng mà thôi
Hôm qua đã rụng một rồi
Lá theo gió cuốn ra ngoài sơn thôn

Nhắc đến những bài thơ hay về Thu phải nhớ đến truyện Kiều của cụ Nguyễn Du với những đoạn tả cảnh Thu thật nhẹ nhàng da diết như đoạn Kiều từ giã gia đình để dấn thân giang hồ:

Vi lô san sát hơi may
Một trời Thu để riêng ai một người
hoặc:
Rừng Thu từng biếc sen hồng
Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn
Riêng đoạn tả cảnh chia ly giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh thì thật trác tuyệt:
Người lên ngựa kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san
hay:
Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng

Nhà thơ Tản Đà cũng đã viết về lá vàng :

Trận gió thu phong rụng lá vàng
Lá rơi hàng xóm lá bay sang

( Việt Nam ta có cây phong hay không? Hoặc giả cây phong chỉ có ở một vùng nào đó mà thi sĩ biết được >Có cả chục loại Phong khác nhau, trong đó có loại bản xứ ở Việt Nam và nam Trung Quốc. Những loại Phong bản địa này thì ngay người Việt Nam cũng ít biết,chỉ có nhà nghiên cứu về Phong, đi phược mới biết thôi. Riêng mấy loại Phong xứ lạnh ở Mỹ, Canada, thì chỉ thích hợp những nơi nào có sương muối, băng tuyết. Rừng lá phong tự nhiên như ở khu vực hồ Tuyền Lâm hoặc là Vườn quốc gia Bidoup (huyện Lạc Dương.Kế là Đồng Cao, Bắc Giang, Rừng nguyên sinh Chế Tạo, Mù Cang Chải, Yên Bái, Đỉnh Pha Luông, Mộc Châu, Sơn La, Đỉnh Fansipan, Lào Cai)

Thu về đem nỗi buồn man mác cho lòng người , gió Thu se lạnh gợi bao niềm nhớ thương như tâm tình của Hồ Dzếnh trong “ Màu Thu năm ngoái:

Trời không nắng cũng không mưa
Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ nhung
Chiều buồn như mối sầu chung
Lòng êm nghe thoảng tơ chùng chốn xa

Riêng Lưu Trọng Lư đã ru hồn người trôi nổi phiêu bồng trong rừng Thu ngập lá với bài thơ nổi tiếng “ Tiếng Thu”:

Em không nghe mùa Thu
Dưới trăng mờ thổn thức
Em không nghe rừng Thu
Lá Thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô

Mùa Thu cũng là mùa tan tác chia ly như tiếng thổn thức của nữ sĩ T.T.KH một thời gây sôi nổi dư luận :

Tôi sợ chiều Thu phớt nắng mờ
Chiều Thu hoa đỏ rụng chiều Thu
Gió về lạnh lẽo chân mây vắng
Người ấy bên sông đứng ngóng đò
( Hai sắc hoa ti- gôn)

Cũng trong nỗi hoài cảm sầu ly biệt, Nguyễn Gia Linh đã dệt nên những vần thơ lục bát buồn man mác:

Ai hay ai biết đặng nào
Người đi từ độ Thu vào lòng tôi
Hoa lòng chưa nở làn môi
Đã tan theo khói đã rơi vào sầu
(Tâm tình mùa ly biệt)

Trong nổi bâng khuâng nhớ nhà dưới trời Thu hiu quạnh, thi sĩ Đinh Hùng đã gởi tâm tình qua bài thơ “ Bài hát mùa Thu” réo rắt như một nhạc khúc trữ tình lãng mạn:

Hôm nay có phải là Thu
Mấy năm xưa đã phiêu du trở về
Cảm vì em bước chân đi
Nước nghiêng mặt ngọc lưu ly phớt buồn
Ai về xa mái cô thôn
Một mình trông khói hoàng hôn nhớ nhà

Thi sĩ Thế Lữ cũng nhiều lần cảm khái với Thu:

Rồi có khi nào ngắm bóng mây
Chiều Thu đưa lạnh gió heo may
Dừng chân trên bến sông xa vắng
Chạnh nhớ tình tôi trong phút giây
(Giây phút trạnh lòng)

Cũng ngay trong mùa Thu , nhà thơ Quách Tấn đã ghi lại nỗi cảm xúc khi đọc bài “ Phong kiều dạ bạc “ của Trương Kế:

Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng
Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng
Bồn chồn thương kẻ nương song bạc
Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng
( Đêm Thu nghe quạ kêu)

Mùa Thu tự cổ chí kim, từ Đông sang Tây đều tượng trưng cho những nỗi buồn bàng bạc, những cuộc chia ly ngậm ngùi. Ta hãy ttưởng thức một đoạn thơ của Cung Trầm Tưởng viết về “ Mùa Thu Paris”:

Mùa Thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ
Rưng rưng rượu đỗ tràn ly
Mùa Thu đêm mưa
Phố cũ hè xưa
Công trường lá đỗ
Ngóng em kiên khổ phút giờ

Hình như trời sinh ra mùa Thu để cho vạn vật tiêu điều ủ rũ, cho thế nhân lạc lõng u hoài . Đã thế, qua lăng kính đau thương chán nãn, Hàn mặc Tử thấy Trời Thu càng não nề chua xót hơn:

Đây bãi cô liêu lạnh hững hờ
Với buồn phơn phớt vắng trơ vơ
Cây gì mảnh khảnh rung cầm cập
Điềm báo Thu vàng gầy xác xơ
(Cuối Thu)
Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn
hay là:
Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe

Thu về trong đôi mắt người thương lãng đãng xa vời và một thoáng buồn trong không gian nhạt nhòa khói sương đã để lại cho Nguyên Trần khoảng trống vắng mênh mông:

Nghe chớm Thu về trong mắt em
Nghiêng nghiêng liễu rũ tóc buông mềm
Thì thầm gió nhẹ lay hàng giậu
Từng lá Thu buồn rơi thoáng êm
(Hoài Thu)

Mùa Thu quả thật là buồn, buồn trong lòng người cho đến vạn vật cỏ cây, tiêu điều xác xơ từ thành thị đến làng quê và hắt hiu tan tác đến cả sơn khê núi rừng .

Bỗng dưng buồn bã không gian

Mây bay lũng thấp giăng màn âm u

Nai cao gót lẫn sương mù

Xuống rừng nẻo thuộc nhìn Thu mới về

Sắc trời trôi nhạt dưới khe

Chim đi lá rụng, cành nghe lạnh lùng

Sầu Thu lên vút song song

Vớùi cây hiu quạnh với lòng quạnh hiu

Non xanh ngây cả buổi chiều

Nhân gian e cũng tiêu điều dưới kia.

Huy Cận

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Đây mùa thu tới mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng
Xuân Diệu
HayXuân Diệu cũng nói về nắng thu với hai câu thơ thất ngôn đầy lưu luyến trữ tình:
Nõn nà sương ngọc quanh thềm dậu
Nắng nhỏ bang khuâng chiều lỡ thì
Một nhà thơ nổi tiếng như sóng cồn một thời vang bóng đã ca ngợi sương thu qua bài thơ “Sương rơi”. Đó là thi sĩ Nguyễn Vỹ với bài thơ hai chữ đã để lại cho đời một tác phẩm bất hủ về sương thu:

Sương rơi
Nặng trĩu
Trên cành
Dương liễu…
Nhưng hơi
Gió bấc
Lạnh lùng
Hiu hắt
Thấm vào
Em ơi,
Trong lòng
Hạt sương
Thành một
Vết thương!..
Rồi hạt
Sương trong
Tan tác
Trong lòng
Tả tơi
Em ơi!
Từng giọt
Thánh thót,
Từng giọt
Điêu tàn
Trên nấm
Mồ hoang!..
Rơi sương
Cành dương…
Liễu ngã
Gió mưa
Tơi tả
Từng giọt,
Thánh thót..
Từng giọt,
Tơi bời,
Mưa rơi,
Gió rơi,
Lá rơi,
Em ơi!...
Nếu mùa thu có lá vàng rơi rụng, có trăng thu huyền ảo thì cũng có nắng thu nhẹ lướt trên đồi. Nắng mùa thu không gay gắt rực lửa như mùa hạ trái lại rất mát dịu trong lành, nhất là những lúc trời xanh mây trắng nắng hồng. Đi dưới nắng thu người ta thấy tâm hồn rất thoải mái lâng lâng, nhất là những lúc trời chiều nhạt nắng có lá vàng bay bay rồi rụng khắp phố phường. Nhiều cặp tình nhân thích đi dưới nắng thu để thưởng thức cái vẻ đẹp của mùa thu, nhặt những lá vàng rơi rồi nhìn những hàng cây khẳng khiu chỉ còn những cành trụi lá dọc hai bên đại lộ lúc chiều tà.
Chao ôi! thu đã tới rồi sao?
Thu trước vừa qua mới độ nào
Mới độ nào đây hoa rạn vỡ
Nắng hồng choàng ấp dãy bàng cao.
Chế lan Viên

Không hiểu vì cảnh sắc mùa Thu tự nó buồn hay mà bài thơ mùa Thu nào cũng buồn tê tái. Chỉ có một thi nhân duy nhất với ba bài thơ diễn tả mùa Thu chẳng những không bi quan yếm thế mà còn vui vẻ yêu đời , mang triết lý sống rất là relax. Đó là cụ Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến với ba bài thơ : Thu Điếu, Thu Ẩm và Thu Vịnh mà ta đã từng phải học thuộc lòng ở bậc Trung học.

Thu Điếu

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối ôm cần lâu chẳng đặng,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Thu Ẩm

Năm gian nhà nhỏ thấp le te,
Ngõ tối đêm khuya đóm lập lòe.
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt,
Mắt lão không viền cũng đỏ hoe.
Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy
Độ năm ba chén đã say nhè.

Thu Vịnh

Trời thu xanh ngắt mấy từng cao,
Cần trúc lơ thơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông chừng như khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra sợ thẹn với ông Đào!

Thêm nữa,bài thơ nổi tiếng “Chansons D’automne” của thi sĩ lừng danh Pháp quốc Paul Verlaine gây bồi hồi và xúc động. Nhà thơ đa tình này đã rung cảm hồn mình thành những dòng thơ bất hủ sau đây để nức nở về tình thu bên bờ sông Seine tuyệt đẹp năm nào:
Les sanglots longs
Des violons
De l’automne
Blessent mon coeur
D’une langueur monotone
Tout suffocant
Et blême, quand
Sonne l’heures
Je me souviens
Des jours anciens
Et je pleure
Et je m’en vais
Au vent mauvais
Qui m’emporte
Decà delà
Pareil à la
Feuille morte
Tiếng đàn ai đó lê thê
Vĩ cầm réo rắt ê chề lòng đau
Bơ vơ chuông đổ đồng hồ
Lòng như héo hắt thu tàn năm xưa
Bao kỷ niệm, theo gió đưa
Cuốn theo lệ đổ chưa vừa xót xa
Bao năm lữ thứ xa nhà
Giang hồ phiêu bạt lá vàng tả tơi…”

Ngồi ngắm mưa thu,chợt nghe tiếng hát Ánh Tuyết nỉ non bản nhạc “Lá đỗ muôn chiều” của Đoàn Chuẩn mà thấy lòng rung động bồi hồi. Tiếng hát mơ hồ huyền hoặc như đưa hồn mình chơi vơi trong khung trời xưa tưởng đã nhạt nhòa:

Thu đi cho lá vàng bay,
lá rơi cho đám cưới về
Ngày mai, người em nhỏ bé
ngồi trong thuyền hoa tình duyên đành dứt
Có những đêm về sáng đời sao buồn chi mấy cố nhân ơi
đã vội chi men rượu nhấp đôi môi
mà phung phí đời em không tiếc nhớ

Lá đổ muôn chiều ôi lá úa,
phải chăng là nước mắt người đi
Em ơi đừng dối lòng
dù sao chăng nữa không nhớ đến tình đôi ta

Thôi thế từ đây anh cố đành quên rằng có người
Cầm bằng như không biết mà thôi
Lá thu còn lại đôi ba cánh
đành lòng cho nước cuốn hoa trôi

Thôi thế từ nay như lá vàng bay tình lỡ rồi
Thuyền rơi xa bến vắng người ơi
Hướng dương tàn tạ trong đêm tối
Còn nhớ phương nào hoa đã rơi.

Thu đi cho lá vàng bay,
lá rơi cho đám cưới về
Tình anh một con thuyền bé
chìm sâu đại dương một đêm nổi sóng
Có những đêm về sáng
đời sao buồn chi mấy cố nhân ơi
Tiếc mà chi dang dở phút phân ly
Thuyền phiêu lãng từ nay không bến đổ

Lá đổ muôn chiều ôi lá úa
phải chăng là những cánh đời em
đêm đêm lìa xuống trần
tình vương hoen úa ôi những cánh đời mong manh.
Than tiếc mà chi chiếc lá vàng bay về cuối trời
làm lòng anh nhớ mãi người ơi.
Nhớ nhau từ làn môi đôi mắt.
đành tìm trong nét bút xa xôi.

Nhưng mỗi mùa thu chiếc lá vàng bay về cuối trời.
Thuyền tình không bến đỗ người ơi.
Nhớ nhau đành tìm trong tiếng hát.
đời vắng em rồi vui với ai.

Người ta cần buồn để hòa mình với sự tuần hoàn của thiên nhiên , cần buồn để quý trọng từng khoảnh khắc vui tươi … cần buồn để thương, cần buồn để nhớ. Mùa thu đã sẵn trong tâm tưởng con người, như kỷ niệm vĩnh viễn còn ở lại, như màu nắng có bao giờ phai.
Nhắc đến thu, chợt nhớ đến sắc tơ vàng vương vương, và lá vàng rơi khi tình thu vừa khơi, nghe chừng như đây màu tê tái. Nhưng đâu chỉ có thế …
Thu là màu tím chiếc áo ôm tim lẻ loi khóc anh chiều tiễn đưa, màu tím sầu thương của những chuỗi ngày vắng nhau tháng năm còn lướt mau biết bao giờ thấy nhau.
Thu là màu hoa thạch thảo chết lịm mong chờ bởi trên cõi đời mộng trùng lai không dễ.
Thu là sắc lông vũ hoàng hạc bay bay mãi bỏ trời mơ, là không gian thăm thẳm diệu vợi của đêm nguyệt cầm ta gọi em trong gió, là ánh sáng huyền ảo lung linh của sáng linh lan hồn ta khóc bao giờ.
Thu là màu xanh: xanh nuột nà trinh nguyên tà áo người mơ không đến bao giờ, xanh lơi lả lá thư nhuộm tình ân ái, xanh thơ ngây gót hài chênh vênh người em gái một sớm mai giữa chân trời lồng lộng, xanh óng gió bay cùng mây ngàn, xanh ngát trăng non gửi về với thu trần gian.
Hòa trong nỗi sầu vào thu, suối mơ cũng buồn vì suối lưu luyến tình nhân thế. Nỗi buồn tưởng không thể nào trong sáng hơn thế, tình yêu tưởng không thể nào trong sáng hơn thế, chẳng bợn chút dục vọng, sầu thương, mà dường ru con tim nguôi ngoa lắng dịu.

Suối ơi !
Nghe rừng heo hút.
Dòng êm đưa lá khô già trút
Còn như lưu hương yêu dấu
Với suối xưa trôi nơi đâu...
Từng hẹn mùa xưa cùng xây nhà bên suối .
Nghe suối róc rách trôi hoa lừng hương gió ngát.
Đàn nai đùa trong khóm lá vàng tươi .
Tơ đàn chùng theo với tháng năm,
Rừng còn nhớ tới người .
Trong chiều nào giữa chốn đây,
Hồn cầm lắng tiếng đời.

(Suối mơ) - Văn Cao
Mùa thu của Văn Cao giữ trọn cái mơ màng huyền diệu đó. Và cái Thu Cô Liêu là cái Thu buồn bã của một cái ngày xa vắng và cái nhớ đi tìm người yêu trong cái Thu thôi.
Vàng hoen đáy nước soi rõ đường đi.
Một mùa Thi, một mùa Thi
Lá rơi, rơi rụng buồn chi lá vàng.
Sương ấp lạnh non hương cứng lá
Đã từng nghe gió biết thu sang

(Thu cô liêu )Văn Cao

Mùa thu chết theo lá vàng, chết trong chiếc áo đan trên tay thiếu phụ lòng buồn vương vấn. Chàng bận lòng nhớ xa khơi, chàng còn mải theo lời gió nước, còn em đan áo mà dệt trọn nỗi nhớ thương.

Người ơi còn biết em nhớ mong
Tình xưa còn đó xa xôi lòng
Nhờ bóng chim uyên nhờ gió đưa duyên
Chim với gió bay về chàng quên hết lời thề

(Buồn tàn thu)Văn Cao
Đặng Thế Phong vẽ từng bức tranh thu bằng ca từ và nhạc điệu … không có dáng ngọc mà chỉ có trăng lan dịu dàng nhưng thấm đẫm nỗi buồn, chỉ có hoa vương sầu thu muôn đời chất ngất, chỉ có lá cây đọng lại lệ đêm trường, và kẻ cô đơn vạn kiếp thao thức nhớ thương ai.
Làn gió lướt tới cuốn đưa hồn ta phiêu diêu theo mây trắng trôi lơ lửng
Ngàn muôn tiếng réo rắt côn trùng như than như van mơ hồ theo gió lan

Trăng xuống dần
Cỏ cây thêm âm thầm
Đông buồn trong ánh sao
Như chiếu nhìn mắt ta bao lạnh lùng
Lay hồn ta rồi thu

(Đêm thu) - Đặng Thế Phong

Hồn người dường cũng đã tan theo trăng rồi. Mưa thu thánh thót rơi, u buồn lắng ngập bầu trời, có ai khóc đời người hữu hạn, có ai than kiếp mệnh bạc tài hoa. Làm sao níu lại gió, giữ lại mưa để cõi lòng đừng lâm ly khi hồn thu tới? Vợ chồng Ngâu còn khóc mãi vì thu … cho một đêm hội ngộ thỏa mộng tình si, và dương thế bao la buồn sẽ đời đời khóc cho nhất phiến tài tình thiên cổ lụy.
Lòng vắng muôn bề không liếp che gió về
Ai nức nở thương đời
chân buông mau

(Giọt mưa thu) - Đặng Thế Phong
Sương lam đã mờ chân mây mà thuyền không bến đỗ. Thuyền ơi, còn lờ lững trôi xuôi nặng nỗi đa mang. Giữa dòng ai biết nông sâu, vơ vẩn một hồn cựu mộng, mối sầu day dứt sao chặt cho đứt, khối sầu nặng trĩu sao đập cho tan … Hơi thu theo heo mây, thông ngàn vi vu lời gió vang từ miền xa lăng lắc, thuyền nhớ bến mơ trong giấc mộng phai tàn.

Nhớ khi chiều sương, cùng ai trắc ẩn tấm lòng.
Biết bao buồn thương, thuyền mơ buồn trôi xuôi dòng
Bến mơ dù thiết tha, thuyền ơi đừng chờ mong

(Con thuyền không bến) - Đặng Thế Phong

Khi mùa hè với cái nắng gay gắt qua đi, mùa thu đến đem theo những cơn gió heo may dịu dàng, những con đường tràn ngập lá vàng rơi và cả khúc yêu thương của những trái tim “vương màu xanh mới”. Lời ca bay bổng, giai điệu ngọt ngào mang âm hưởng những năm 1970 mỗi khi vang lên như khẽ nhắc nhở người nghe rằng mùa thu đã sang rồi. Tình cảm dành cho mùa thu được nhạc sĩ Ngô Thụy Miên thể hiện vừa lãng mạn, lại vừa kín đáo nhưng vẫn có sự nồng nàn trong các tình khúc của mình. Cô gái trong bài hát đã nhờ vẻ đẹp “má hồng”, “môi em thơm nồng” của mùa thu để bày tỏ tình yêu của mình một cách ý nhị. Khi thiên nhiên, đất trời thay áo mới, con người cũng khoác lên mình một tâm hồn mới, đầy ắp yêu thương và hy vọng.

Anh có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ
Anh có nghe nai vàng hát khúc yêu đương
Và anh có nghe khi mùa thu tới
Mang ái ân, mang tình yêu tới
Anh có nghe hồn thu nói mình yêu nhau nhé.
(Mùa thu cho em) Ngô thụy Miên
Ngoài vẻ đẹp quyến rũ làm xao xuyến lòng người, mùa thu với những lời ru, ánh trăng thề, những con đường hiu quạnh còn đem lại cảm giác buồn man mác. Đó là sự hoài niệm về những gì đã qua, về mối tình cũ đã chìm trong quá khứ. Mùa thu đến và đi quá đột ngột, cũng giống như chuyện tình dang dở của cô gái trong ca khúc Không còn mùa thu, để lại bao nuối tiếc và thương nhớ. Những ký ức về cuộc tình cũ cứ hiện về trong tâm trí của cô gái ấy mỗi độ thu sang.
Nhắc tới mùa thu, hầu như ai cũng hình dung ra sắc vàng. Đó là màu của những chiếc lá rơi bên thềm, của ánh trăng khuya và cũng là màu vàng tê tái của những ký ức tươi đẹp đã qua, chìm khuất tận nơi chân trời.
“... Không còn mùa thu, trăng rơi bên thềm
Không còn lời ru, mơ trên môi mềm
Em thơ, như mùa xuân đầu, nối dài đêm sâu
Anh làm mùa thu, cho em mơ màng...”
(Không còn mùa thu) Việt Anh
Nhìn những mùa thu đi và Nắng thủy tinh đều là hai nhạc phẩm bất tử về mùa thu mà cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại cho kho tàng âm nhạc VN. Đều lấy hình ảnh là một buổi chiều thu, nhưng nếu như Nắng thủy tinh là một “chiều nghiêng nghiêng bóng nắng qua thềm” thì buổi chiều trong Nhìn những mùa thu đi lại “đơn côi bàn tay quên lối, đưa em về nắng vương nhè nhẹ”. Trong cuộc đời của mỗi con người, ai rồi cũng sẽ phải đón nhận những mùa thu đi qua và “nghe tên mình vào quên lãng”. Mùa thu đến và đi để lại bao cảm xúc bâng khuâng, ngậm ngùi. Những hoài cảm sâu sắc của biết bao người nghe đã, đang và sẽ vẫn trào dâng mỗi khi những giai điệu êm đềm ấy được ngân vang. Mùa thu cũng là lúc để chúng ta hoài niệm về quá khứ, để tâm hồn mình “buồn dâng mênh mang” và lắng đọng theo từng nốt nhạc xưa cũ.
Nhìn những mùa thu đi
Em nghe sầu lên trong nắng
Và lá rụng ngoài song
Nghe tên mình vào quên lãng
Nghe tháng ngày chết trong thu vàng…”
“… Chiều đã đi vào vườn mắt em
Mùa thu qua tay đã bao lần
Ngàn cây thắp nến lên hai hàng
Màu nắng bây giờ trong mắt em…
(Nhìn những mùa thu đi/ Nắng thủy tinh) Trịnh Công Sơn
THANK YOU Quote
13-11-2017, 07:36 PM
Bài viết: #42
RE: PPS nhạc thu & NHẠC KHÁC...
MỜI XEM NHÌN NHỮNG MÙA THU ĐI


.ppsx  DQ-NHÌN NHỮNG MÙA THU ĐI.ppsx (Kích cỡ: 9.44 MB / Tải về: 2)
THANK YOU Quote
14-11-2017, 05:58 AM
Bài viết: #43
RE: PPS nhạc thu & NHẠC KHÁC...
Mời xem pps * LÁ ĐỖ MUÔN CHIỀU*


.ppsx  DQ- LÁ ĐỔ MUÔN CHIỀU.ppsx (Kích cỡ: 7.19 MB / Tải về: 1)

Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn (15 /6/ 1924 – 15 / 11/ 2001) là một nghệ sĩ biểu diễn lục huyền cầm Hạ Uy Di, song được biết đến nhiều hơn cả như một nhạc sĩ Việt Nam với số lượng sáng tác ít ỏi nhưng đều trở thành những giai điệu bất tử được thuộc nằm lòng của nhiều thế hệ.
[Hình: attachment.php?aid=13635]
Sinh ra trong một gia đình tư sản nổi tiếng ở Hải Phòng, ông là con trai thứ 2 của nhà tư sản Đoàn Đức Ban (Vạn Vân) – chủ hãng nước mắm Vạn Vân nổi tiếng và lớn nhất trên toàn cõi Đông Dương trước 1945). Sinh ngày 15/6/1924, tại Hải Phòng, mảnh đất có nhiều nhân vật đóng góp lớn cho nền âm nhạc Việt Nam thời điểm khởi đầu: Lê Thương, Văn Cao, Hoàng Quý, Hoàng Phú (Tô Vũ)… Trong đó, chính nhóm Đồng Vọng mà Hoàng Quý chủ xướng đã tạo nên không khí sáng tác cho dòng nhạc lãng mạn thời gian này. Đoàn Chuẩn lại trưởng thành ở Hà Nội, không những thế, lại còn trong một gia đình tư sản cỡ lớn: Hãng nước mắm Vạn Vân. Hà Nội đầu thế kỷ từng có câu: “Cốm Vòng, cà Báng, húng Láng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét”, hãng này nổi tiếng khắp Đông Dương.
Ông lớn lên ở Hà Nội và là nghệ sĩ chơi đàn Guitar Hawaii. Ông sáng tác ca khúc đầu tiên là “Ánh Trăng Mùa Thu” vào năm 1947 tại làng Đống Năm, Đông Hưng, Thái Bình với đề từ ghi “kỷ niệm những ngày ở Khuốc, Thu 1947”. Không biết người nhạc sĩ hào hoa này đã mang theo hình ảnh cô gái làng Chèo nào vào ca khúc, nhưng ông vốn dĩ là “tay chơi số 1” Bắc Kỳ, với vô số bóng hồng len lỏi trong suốt chặng đường nghệ thuật.
Đoàn Chuẩn, theo lời kể của con trai là Đoàn Đính, nổi tiếng về tính cách phong lưu và hào hoa có thể so sánh như công tử Bạc Liêu ở Miền Nam Việt Nam thời bấy giờ. Nhạc sĩ, nhà phê bình âm nhạc Nguyễn Thụy Kha khẳng định. Đã có rất nhiều huyền thoại xung quanh những chuyện tình lãng mạn của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn. Về việc mỗi sáng ông đều thuê người gửi một bông hồng đỏ đến nhà người thiếu nữ ông si mê, suốt gần 3 năm liền. Cho đến khi bông hồng thứ 1000 đã đến tay người đẹp, ông chủ trẻ mới xuất hiện trên ngưỡng cửa nhà nàng. Đoàn Chuẩn nổi tiếng chơi sang và chơi… ngông nữa. Chàng công tử hào hoa và những “người em gái” “Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn không bao giờ yêu cô nào không xinh” –Sinh ở Hải Phòng nhưng trưởng thành tại Hà Nội, là con trai chủ hãng nước mắm Vạn Vân nổi tiếng khắp Đông Dương thời bấy giờ, Đoàn Chuẩn sở hữu tới 6 chiếc xe đẹp nhất Hà Nội. Trong những chuyến chở người đẹp xuống Đồ Sơn chơi, ông sẵn sàng phi xe xuống tận bãi biển chứ không đậu trên bờ như người khác, và vung tiền trả cho tất cả những diện tích nơi chiếc ô của ông tỏa bóng mời người đẹp ngắm biển. Có lần, ông biết đích danh một chàng con nhà có thế lực khác định mời cô gái mà ông thương mến đi chơi, ông bèn thuê hẳn hai chiếc xe tới cửa nhà nàng, đậu chắn hai đầu chiếc xe của đối thủ, rồi khóa xe lại bỏ đi chơi. Lúc đó, ông mới đàng hoàng xuất hiện trên chiếc xe riêng hạng sang tới đón người đẹp. Đoàn Chuẩn kỹ tính nhất là chuyện ăn và mặc. Bữa ăn của ông phải được chăm sóc rất cầu kỳ, ví dụ như món tôm biển, phải dùng loại còn tươi nguyên và được chế biến sau 15 phút mang về từ thuyền câu tôm. Có ngày, ông thay tới 6 bộ quần áo khác nhau để “đuổi theo” những cuộc rong chơi. Mỗi bài tình ca quyến rũ và đầy mê lực của ông đều là dấu ấn của một bóng hồng khác nhau. Có người kể lại đã từng thấy đôi khi ông khóc khi đàn lại những bài tình ca xưa, được cho rằng tặng M, tặng T… Nhưng chưa ai được nghe ông tâm sự về họ. Chỉ có thể biết một phần những câu chuyện tình của ông qua tài tử Ngọc Bảo – người bạn tri kỷ, người hát nhạc Đoàn Chuẩn hay nhất. Và, đặc biệt hơn nữa, song hành với những câu chuyện tình nổi đình đám của người nhạc sĩ tài hoa, chính là người vợ yêu dấu của ông. “Ông ấy lãng mạn, đa tình lắm. Có vậy, ông mới viết được những bài hát hay thế. Ông muốn ngang thì ngang, muốn dọc thì dọc, tôi chiều ông hết. Bổn phận của tôi là chăm chồng, nuôi con, lúc nào cũng an phận chịu đựng. Ông không biết đến sinh kế, gia đình, con cái... Đời ông phóng khoáng. Nghe nhạc ông lúc nào tôi cũng ngạc nhiên - sao ông tài thế?...”
[Hình: attachment.php?aid=13637]
Ông bà Đoàn Chuẩn và cô con gái đầu lòng.
Đối với nhiều người, mùa thu như một bức tranh đẹp nhất trong bốn mùa với màu xanh của đất trời, với sắc vàng của hoa cúc, của áo mơ phai và của cả lá vàng. Mùa thu là nguồn cảm hứng bất tận cho các nhà thơ và nhạc sĩ. Nhưng sáng tác hay và lấy lấy mùa thu là chủ đề xuyên suốt trong các tác phẩm của mình có lẽ chỉ có Đoàn Chuẩn - Nhạc sĩ của mùa thu. Trong 10 tình khúc nổi tiếng của ông, có đến 9 tác phẩm viết về mùa thu, duy chỉ có Gửi người em gái miền Nam là viết về mùa xuân, nhưng trong ca khúc vẫn còn hình ảnh của mùa thu đã xa.
Lúc sinh thời, Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn từng nói: “Giời đất cho ta đủ cả bốn mùa, nhưng hình như chỉ có mùa thu là mùa của tình yêu, vì mùa hè thì oi bức, ồn ào quá; còn mùa đông lại giá lạnh, cô quạnh quá; mùa xuân thì vạn vật còn mải “rong chơi”…” cho nên ông mới có những câu chữ đầy cảm xúc như một kẻ đã trót si tình với mùa thu đến say sưa mê mẩn đến vậy.
Giai đoạn ông sáng tác nhiều nhất là thời kỳ đầu thập kỷ 50, thời kỳ này đã tạo ra một Đoàn Chuẩn “vua slow” với những tình khúc về mùa thu Hà Nội. Trong giai điệu của ông, ta cảm thấy có tiếng lá rơi nhè nhẹ, có tiết heo may se lạnh, một chút bâng khuâng, yêu thương, luyến tiếc. Hơn nữa, còn thấy phảng phất ở giai điệu ấy hình bóng huyền diệu của những “tuyệt sắc giai nhân” đã hơn một lần làm xao xuyến trái tim “chàng công tử Hà Nội” dịu dàng và đa tình này. Vẫn một tình nghệ sĩ ấy, vẫn một tà áo xanh ấy, vẫn gặp gỡ và chia tay muôn thuở.
Tình khúc mùa thu của Đoàn Chuẩn là trang nhật ký của những mối tình thì không sai. Yêu đến mức bất chấp mọi nguy hiểm, ở trên mọi ràng buộc mới có thể thốt lên những giai điệu si tình đến thắt lòng người như vậy. Và trong tất cả những mê đắm ấy, mùa thu Hà Nội luôn như thể “cời than bếp lửa”. Ở Cánh hoa duyên kiếp thì: “Như duyên em thầm kín. Trong hương thu màu tím buồn…”. Ở Lá thư thì: “Nhớ tới mùa thu năm xưa gửi nhau phong thư ngào ngạt hương…”. Ở Gửi gió cho mây ngàn bay thì: “Với bao tà áo xanh đây mùa thu…”. Ở Chuyển bến thì: “Một sớm thu về chuyển bến xuôi…”. Ở Dang dở (hay Tà áo xanh) thì: “Ta quen nhau mùa thu…”. Ở Lá đổ muôn chiều thì: “Thu đi cho lá vàng bay…”. Đến ngay ở Gửi người em gái miền Nam tuy viết về mùa xuân nhưng cũng cứ như là đứng từ mùa thu vọng tới: “Nhưng một sớm mùa thu giữa khung trời tím ngát…”.

Ba ẩn số trong cuộc đời nghệ sĩ Ẩn số thứ nhất là cái tên chung: Đoàn Chuẩn - Từ Linh. Nghệ sĩ Guitare Hawaii Đoàn Đính kể - tên thật của người bạn này là Tạ Đình Thâu (một nhiếp ảnh gia tri kỷ với Đoàn Chuẩn). Chưa bao giờ ông cụ nói về cái tên chung này. Nhưng ngay từ “Ánh trăng mùa thu”, ông đã ghi tên chung là Đoàn Chuẩn – Từ Linh. Đây vẫn là một ẩn số mà cho đến tận bây giờ vẫn chưa ai giải mã được.

[Hình: attachment.php?aid=13636]

Tất cả các ca khúc được sáng tác vào giai đoạn đầu (1947 – 1956) đều được ký tên chung Đoàn Chuẩn – Từ Linh, hoặc “Nhạc: Đoàn Chuẩn, Lời: Từ Linh”. Vậy Từ Linh là ai?
Theo nhạc sĩ Phạm Duy thì Từ Linh là nhân viên thư ký của hãng nước mắm Vạn Vân, nhạc sĩ Trần Thịnh lại cho rằng đó là người tài xế riêng của Đoàn Chuẩn còn người viết biết được rằng Từ Linh tên thật là Hà Đình Thâu (dễ nhớ, vì trùng họ, trùng chữ lót với người viết) là em của một người bạn thân của Đoàn Chuẩn.
Tuy nhiên, dù Từ Linh là ai thì vẫn chắc chắn đây là một “tri âm, tri kỷ” của Đoàn Chuẩn. Một tình bạn son sắt, chung thủy cho đến lúc cả hai đều khuất bóng. Không ai biết Từ Linh đã đóng góp cụ thể như thế nào vào nhạc Đoàn Chuẩn nhưng chắc chắn là Từ Linh đã có đọc, có góp ý, và có thể đã sửa lời hoặc đặt lời cho ca khúc của Đoàn Chuẩn được thăng hoa hơn… có những ca khúc người ta dám chắc mười mươi chỉ là một mình Đoàn Chuẩn sáng tác nhưng vẫn được tác giả ký tên Đoàn Chuẩn – Từ Linh một cách trân trọng.
Sau 1954, Từ Linh di cư vào Nam còn Đoàn Chuẩn vẫn neo mình ở căn nhà số 9, Cao Bá Quát – Hà Nội. Sau này, ở miền Nam in lại những ca khúc của cặp đôi này nhưng chỉ còn ghi tên Từ Linh Từ Linh mất tại Sài Gòn năm 1992. Còn Đoàn Chuẩn cũng đã ra đi trong vòng tay của người vợ suốt đời chịu đựng cái tính hào hoa, đa tình của ông rồi lại chăm sóc suốt gần 2 năm ông bị tai biến mạch máu não cho đến những giây phút cuối đời.

Điều lạ lùng là ngày mất của Đoàn Chuẩn (15.11.2001) lại trùng với sinh nhật của một nhạc sĩ thân thiết, cùng quê Hải Phòng: nhạc sĩ văn Cao (15.11.2001).
Ẩn số thứ hai là khoảng lặng suốt 31 năm không sáng tác một nhạc phẩm nào. Chưa ai tìm ra lời giải cho quãng lặng đáng kể này, kể cả các nhà phê bình và những người thân trong gia đình cố nhạc sĩ nhưng ai nghe nhạc của ông cũng tiếc là sao ông không viết thêm nữa những ca khúc làm say mê, quyến rũ lòng người. Ẩn số thứ ba là màu tím trong nhạc phẩm của Đoàn Chuẩn. Ông vốn nổi tiếng với hai màu. Các nhạc phẩm của ông đều liên quan đến mùa thu vàng và màu xanh khỏe khoắn sáng lên trong ánh vàng rực rỡ ấy (Tà áo xanh, Tình nghệ sĩ, Gửi gió cho mây ngàn bay, Lá đổ muôn chiều, Thu quyến rũ, Vàng phai mấy lá). Nhưng, có đôi khi, màu tím xuất hiện giản dị, chân phương và khiêm tốn: “Cành hoa tim tím bé xinh xinh đón xuân về…” (Gửi người em gái); “Chiều nào áo tím nhiều quá…” (Đường về Việt Bắc). Đó là hình ảnh người vợ thân thương của ông, là chiếc áo tím bà mặc khi còn đi học, là sự ẩn mình canh cánh bên người chồng tài hoa. Tổng số tác phẩm của Đoàn Chuẩn không nhiều, chỉ gần 20 ca khúc nhưng đã để lại cho đời cả một gia tài âm nhạc. Ca khúc tình tứ, lãng mạn của ông thì luôn vang mãi trong niềm yêu của công chúng yêu nhạc, nhưng nhiều sự thật khác về cuộc đời ông thì lại nằm trong sự im lặng đến quyến rũ – như những giọt thu mà ông đã im lìm gieo trên nốt nhạc.

[Hình: attachment.php?aid=13638]

Từ mối tình đầu để có một gia đình với một người đẹp là bà Đoàn Chuẩn đẹp tới tận bây giờ - hiền thảo, đôn hậu và bao dung, Đoàn Chuẩn đã phiêu diêu qua những cung bậc yêu đương nồng cháy và nóng bỏng đến độ phải thốt lên những giai điệu lạ lùng trong tập Những bài hát bị xé mà đến nay còn nhiều người chưa được thưởng thức. Đấy là mối tình cuối cùng sâu đậm nhất trong trường tình Đoàn Chuẩn.
Nàng là con gái đầu lòng của một viên chức hỏa xa kháng chiến, cha nàng là tự vệ chiến đấu nội thành. Khi rút ra chợ Đại, cha mang theo nàng mới 12 tuổi. Vài năm sau, nàng về lại Hà Nội với mẹ để cùng mẹ chăm sóc năm em dưới mình. Ở tuổi dậy thì, nàng đã tần tảo làm thuê, đánh máy chữ, đan áo len để có tiền góp với mẹ nuôi các em. Nàng đẹp đến kiêu sa và hát rất hay. Tình cờ, một nhạc công đài Pháp - Á đã phát hiện ra tài nghệ này của nàng. Và nàng đã đăng quang “vương miện thủ khoa” trong cuộc thi hát do đài Pháp - Á tổ chức. Chính lúc ấy, nàng mới biết tác giả những tình khúc mùa thu Hà Nội. Từ chỗ muốn nâng đỡ một tài năng trẻ, giúp cho học nhạc, giúp những sô diễn, tình cảm đã len lén vào hồn từ khi nào mặc dù xung quanh nàng biết bao vệ tinh bủa vây.
Tình cảm đang lãng mạn vậy thì đột nhiên nàng “biến” khỏi Hà Nội. Sự “biến” của nàng khiến Đoàn Chuẩn chống chếnh. Ông cảm thấy mất mát thực sự, xót xa trong cô đơn. Nhưng thực ra không phải nàng cố ý cho Đoàn Chuẩn “leo cây” mà vì người cha bị mất đột ngột ở vùng tự do. Chú nàng là đại đội trưởng vệ quốc đoàn đã cử liên lạc bí mật vào thành đón nàng ra ngoài vùng tự do vào cuối mùa xuân 1954, đúng thời điểm mở ra chiến dịch Điện Biên Phủ. Rồi nàng trở về cùng đoàn quân giải phóng thủ đô. Họ gặp lại nhau gấp gáp hối hả, như tìm lại một cái gì đó cùng đánh mất. Để rồi lại vĩnh viễn xa nhau: “Có những đêm về sáng - Đời sao buồn chi mấy cố nhân ơi!” và để rồi: “Nhớ nhau đành tìm trong tiếng hát và tìm trong nét bút xa xôi”.
“ “Đúng là có những lúc, gia đình chúng tôi đã rơi vào tình cảnh im lặng đợi chờ cơn bão – Nghệ sĩ Guitare Hawaii Đoàn Đính bộc bạch – Nhưng rồi, cuối cùng thì mọi sự vẫn bình yên. Hồi bố tôi yêu một người ca sĩ, tên là Lê Hằng, mẹ tôi đã tìm tới tận nhà cô ấy. Mẹ tôi hỏi cô ấy có yêu bố tôi không. Cô ấy nói có. Mẹ tôi bảo: Tôi còn yêu anh ấy gấp 10 lần cô. Nếu cô thực lòng với anh ấy, tôi xin giao cho cô cả mấy đứa con. Vậy mà cô Hằng tỉnh ngộ, xé hết tất cả những bản nhạc bố tôi đã viết tặng và rời xa ông. Sau này, những bài đó được chúng tôi sưu tầm lại và ấn hành trong tập Bài ca bị xé”.

Đi kháng chiến, thì Đoàn Chuẩn vẫn là công tử Hà Thành chính hiệu. Cả 10 bài hát viết trong thời gian kháng chiến mà người ta không thấy bóng dáng kháng chiến ở chỗ nào! Ông đã nhận mình là “tay mơ” trong sáng tác, và trong cả… tình yêu. Chẳng hạn, “Tình Nghệ Sĩ” là khi đi tản cư, do mê một cô nàng bán hàng cà phê xinh đẹp người Hà Nội. Quán tên là Thanh Hương, vì thế ban đầu nhạc sĩ nghĩ: “Đây quán Thanh Hương mấy thu đầm ấm…” sau đó, mới thành “Đây khách ly hương mấy thu vàng ấm. Nơi quán cô đơn mơ qua trùng sóng…”. Cũng may, không thì ngày nay “Tình Nghệ Sĩ” lại không còn quảng đại mà sẽ bị gói trọn trong hai chữ Thanh Hương xa xôi ngày nào. Tự nhận mình là đa tình, thích gái đẹp. Có lẽ chính vì thế, khi có gia đình rồi, có được người vợ cũng đẹp lắm rồi, ông “hết hứng” viết.

Chính bản thân ông cũng thành thật nói lên một điều “rất đáng tiếc” của mình cuối đời là tiếc sao “Tất cả những cô ca sĩ hát nhạc Đoàn Chuẩn – Từ Linh hay thì… chẳng có cô nào đẹp cả”, mà ông suốt đời chỉ yêu cái đẹp thôi!

Trong cao trào cách mạng, ông tham gia thanh niên xung phong thành Hoàng Diệu. Kháng chiến toàn quốc, ông vào tham gia công tác văn nghệ ở Khu IV và bắt đầu sáng tác ca khúc. Các bài “Tình Nghệ Sĩ” (1948) và “Đường Về Việt Bắc” được viết vào thời kỳ đó.
Sau đó, Đoàn Chuẩn về lại Hà Nội. Tình khúc Đoàn Chuẩn bắt đầu nổi tiếng ở giai đoạn này. Toàn bộ ca khúc của mình, ông đều đề tên chung Đoàn Chuẩn – Từ Linh trong phần tác giả.
Tình khúc Đoàn Chuẩn in đậm mùa thu Hà Nội. Đó là “Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay”, “Lá Thư”, “Thu Quyến Rũ”, “Cánh Hoa Duyên Kiếp” (còn gọi là “Dạ Lan Hương”), “Tà Áo Xanh”, “Chuyển Bến”, “Lá Đổ Muôn Chiều”… Bài hát “Gửi Người Em Gái Miền Nam” được viết sau này dường như là bài hát cuối cùng khép lại sự nghiệp sáng tác của Đoàn Chuẩn.
“Chôn sâu tận đáy lòng” tình cảm ấy, Đoàn Chuẩn đã khép lại giai đoạn sáng tạo những tình khúc mùa thu Hà Nội độc đáo vào những năm đầu hòa bình ở miền Bắc, sau khi bài Gửi người em gái miền Nam bị phê phán và ngừng không phát sóng. Mãi tới khi bước vào thời kỳ đổi mới và mở cửa, những tình khúc mùa thu của Đoàn Chuẩn mới thực sự được khôi phục cùng những tình khúc lãng mạn của Văn Cao, Đặng Thế Phong, Dương Thiệu Tước… ông phấn khởi, khỏe ra, mừng tủi giữa bạn bè.

Có nhiều giai thoại về sự ra đời của bài hát “Gửi Người Em Gái Miền Nam”, tuy nhiên, bài viết này cho rằng, khi “người trong mộng” đi lấy chồng, Đoàn Chuẩn ngẩn ngơ như người mất hồn và trút tâm sự vào bài hát.
Sự ra đời của ca khúc “Gởi Người Em Gái Miền Nam”
Vì muốn chạy trốn mối tình vô vọng, năm 1954 – chia đôi đất nước, nàng ca sĩ “Vàng phai mấy lá” đã vào Nam và lập gia đình. Ở lại miền Bắc, Đoàn Chuẩn ngẩn ngơ như người mất hồn, và ông viết “Gửi Người Em Gái Miền Nam” – một ca khúc có mùa xuân, có tết duy nhất nằm trong “kính thưa các bản nhạc … mùa thu”, của ông:
“Cành hoa tim tím bé xinh xinh báo xuân nồng. Rừng đào phong kín cánh mong manh hé hoa lòng. Hà Nội chờ đón tết, hoa chen người đi, liễu rủ mà chi. Đêm tân xuân Hồ Gươm như say mê. Ngàn phía đến lễ đền. Chạnh lòng tôi nhớ tới người em…”.
Nàng trong mắt Đoàn Chuẩn thật lộng lẫy, kiêu sa: “Tôi có người gái tuổi chớm dâng hương, mắt nồng rộn ý yêu thương. Đôi mắt em nói nhiều, tha thiết như dáng Kiều. Ôi tình yêu… Em tôi đi màu son trên đôi môi. Khăn san bay lả lơi trên vai ai. Trời thắm gió trăng hiền. Hà Nội thêm dáng những nàng tiên…”
[Hình: attachment.php?aid=13639]
Bài hát Gửi Người Em Gái Miền Nam viết bằng tay của Đoàn Chuẩn

Cũng cần nói thêm. khoảng từ 1957, nhạc Đoàn Chuẩn bị cấm hát ở miền Bắc, trong khi ở miền Nam thì công chúng được hát thoải mái nhạc của bất kỳ tác giả nào, miễn sao bài hát đó không dính líu đến chính trị. Riêng ca khúc trên được ngắt bớt 2 chữ “Miền Nam” ở cái tựa, chỉ còn “Gửi Người Em Gái”. Đến thập niên 1990, nhạc Đoàn Chuẩn mới được hát lại trong phạm vi toàn quốc. Nhạc Đoàn Chuẩn và các nhạc sĩ cùng thời với ông thường mang hơi hướm phương Tây, nhưng ở “Gửi Người Em Gái” tác giả đã hạ một câu lục bát rất “ngọt”: “Người đi cho dạ sao đành. Đường quen lối cũ, ân tình nghĩa xưa?”.
Nhiều người cho rằng, nàng của những giai thoại kể trên chính là ca sĩ T.V. lừng danh một thời, hiện sống ở TP HCM, người viết đã may mắn được gặp và mạo muộn hỏi bà có phải là nhân vật chính trong giai thoại này. Bà cười, bảo: “Không phải đâu! Đó là ca sĩ M.L., bạn thân của tôi”.
Ca từ trong nhạc Đoàn Chuẩn hầu như có chung một quy ước, ở đó có mùa thu, có người thiếu nữ tô quầng mắt, nét son trên đôi môi, khép nép trong tà áo xanh, có đôi mắt như hồ thu, tóc thề xõa trong gió… Tất cả đều như tranh Tố nữ.

Những ghi chú bên lề bản nhạc cũng đầy bóng giai nhân
Viết xong một bản nhạc, khi đang còn dư âm cảm xúc, Đoàn Chuẩn thường viết vài dòng “ghi chú” trên bản nhạc để nhắc nhớ những kỷ niệm cho riêng mình, câu nào cũng thấp thoáng bóng giai nhân, có khi là những câu thơ, như:
“Để nhớ một kỷ niệm với V.P. và M.L. Em ơi, lá có rơi ngoài muôn ngả/ Thì chung quy cũng về đất thân yêu/ Anh phong sương mưa nắng đã hoen nhiều/ Đời nhạc sĩ có gì vui đâu em hỡi/ Anh ra đi em cũng đừng chờ đợi/ Mai anh về, kia nữa hoặc chẳng bao giờ” (ghi trên Chuyển Bến),
hay:
“Viết tại 63 Lý Thường Kiệt và 46 Hàng Cót, Hà Nội (rạp Đại Đồng) cuối năm 1954, bước sang năm 1955. Không sao kìm nổi xúc động và nhớ vô cùng” (Lá Đổ Muôn Chiều)”…
Đã có rất nhiều người ngộ nhận dòng nhạc của Đoàn Chuẩn là “nhạc tiền chiến”. Thực ra, giai đoạn sáng tác chính ông (1948 – 1956) với khoảng 10 bài quen thuộc là ở trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Sau này ông có sáng tác thêm những ca khúc như: “Tâm Sự” (1956), “Một Gói Nho Khô”, “Cánh Hoa Pensée” (1998), “Phấn Son” (1989), “Mầu Nắng Có Bao Giờ Phai Đâu” (1989)… nhưng không mấy phổ biến.
Vài năm trước khi từ trần, bệnh xuất huyết não khiến ông không thể di chuyển được và nói rất khó khăn. Câu nói cuối cùng ông nói trước khi không nói được là: “Rồi những người tình sẽ ra đi. Rồi nhạc sĩ sẽ ra đi. Chỉ còn tác phẩm ở lại”. Đầu năm 2000, ông bị tai biến mạch máu não và hôn mê. Sau đó, ông tỉnh lại nhưng mất tiếng nói, chỉ có thể bút đàm cho đến lúc qua đời lúc 22 giờ, ngày 15 tháng 11 năm 2001.

Về già, gia cảnh sa sút nhưng vợ chồng NS Đoàn Chuẩn vẫn rất êm ấm thuận hòa.
Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn-Từ Linh và tác phẩm:
1. Ánh trăng mùa thu, 1947 (ca khúc đầu tiên)
2. Tình nghệ sĩ, 1948
3. Lá thư, 1948
4. Đường về Việt Bắc, 1949
5. Thu quyến rũ, 1950
6. Chuyển bến, 1951
7. Gửi gió cho mây ngàn bay, 1952
8. Cánh hoa duyên kiếp (hay “Dạ lan hương”), 1953
9. Lá đổ muôn chiều, 1954
10. Tà áo xanh (hay “Dang dở”), 1954-1955
11. Chiếc lá cuối cùng, 1955
12. Để có những chiều tắt nắng, 1955
13. Một gói nho khô, một cánh pen-séc, 1955
14. Vàng phai mấy lá (hay “Vĩnh biệt”), 1955
15. Gửi người em gái miền Nam, 1956
16. Thuở trâm cài (bút danh Việt Tử; thập niên 1960)
17. Khuôn mặt em (thơ: Văn Cao), 1987
18. Đường thơm hoa sữa gọi, 1988
19. Màu nắng có bao giờ phai đâu, 1989 (ca khúc cuối cùng)
20. Bài ca bị xé.
21. Bên cầu.


File đính kèm Thumbnail(s)
                   
THANK YOU Quote
[-] dieuquang được 1 thành viên cám ơn cho post này:
langtrang (14-11-2017 09:31 AM)


Chuyển nhanh:


Đang xem chủ đề này: 1 Khách

Liên hệ | Gốc Quê | Lên trên | Nội dung | Bản rút gọn | Tin RSS